Thursday, October 23, 2014

Những ngày cuối cùng ở Việt Nam và phép lạ bị lãng quên

Last Days in Vietnam là bộ phim tài liệu mới nhất về những ngày cuối cùng trước khi VNCH tan rã vào 30 tháng Tư, 1975. Trước đây đã có hai bộ phim tài liệu với nội dung tương tự: The Fall of Saigon và The Lucky Few. Bộ phim mới này đã gây tiếng vang trước khi được phổ biến rộng rãi.
Last Days in Vietnam do Rory Kennedy, con gái út của Bộ Trưởng Tư Pháp và Nghị Sĩ bị ám sát Robert Kennedy, sản xuất cho hệ thống PBS, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Nam VN rơi vào tay cộng sản. Bộ phim này mới được chiếu ra mắt tại một số rạp ở California, và Washington DC vào tháng 9 và đầu tháng 10, 2014, và sẽ được cho chiếu rộng rãi vào tháng Tư, 2015. Vì nội dung tương tự, có người tưởng lầm đây là một trong hai bộ phim cũ được chiếu lại. Thật ra, The Fall of Saigon do Michael Dutfield sản xuất cho Discovery Channel đã ra đời từ 1995, nhân kỷ niệm 20 năm ngày mất Sài Gòn. Còn The Lucky Few do Hải Quân Hoa Kỳ (US Navy) sản xuất năm 2010, vào dịp kỷ niệm 35 năm ngày mất miền Nam VN, ghi lại vai trò của hộ tống hạm USS Kirk trong cuộc di tản của toàn thể hạm đội VNCH từ Sài Gòn tới Philippines.

 “Hậu sinh khả uý”, tuy cùng là những tài liệu và nhân vật thật, nhưng bộ phim mới nhất có những ưu điểm so với hai bộ phim trước. Về mặt kỹ thuật, Last Days in Vietnam được chiếu ở rạp, với màn ảnh lớn và âm thanh tốt, làm tăng cảm giác của người xem. Về nội dung, tuy cũng là phim tài liệu như hai bộ phim trước, nhưng phim này “có đầu có đuôi” như một cuốn phim truyện. Xem xong, ngoài những hình ảnh đặc biệt, có khi lần đầu tiên được thấy, cuốn phim còn để lại trong lòng người xem những điều đáng suy nghĩ, về danh dự, về trách nhiệm, và tình người.
Từ hoà bình không danh dự
Cuốn phim đã bắt đầu bằng hình ảnh và tài liệu về kết quả Hội nghị Hoà bình Paris 1973: Chấm dứt chiến tranh trong danh dự. Nhưng những người ký tên vào Hiệp Định, và những người long trọng hứa bảo vệ hoà bình bằng mọi giá đã coi thường danh dự của mình. Sau khi quân chiến đấu Mỹ rút khỏi Việt Nam, và sau khi Tổng Thống Nixon phải từ chức vì vụ Watergate, chiến tranh tiếp diễn tàn ác hơn trước khi có hiệp định hoà bình.
Frank Snepp, một cựu nhân viên CIA xuất hiện trong phim, nói Hiệp Định Paris là một ‘tuyệt tác mơ hồ” (masterpiece of ambiguity), hàm ý văn bản Hiệp định Hoà bình thiếu rõ ràng, khiến cộng sản Hà Nội có thể gia tăng chiến tranh, chiếm trọn miền Nam trong hai năm. Nhận định này không chính xác. Với Cộng Sản, những người theo cơ hội chủ nghĩa, khi đặt bút ký vào một thoả hiệp, là nắm lấy một điểm tựa đề chờ cơ hội, bất chấp văn bản thoả hiệp rõ ràng hay mơ hồ. Dù văn bản thiếu rõ ràng, khi cơ hội chưa tới, họ vẫn có thể chờ. Khi Nixon từ chức vào năm 1974, và Quốc Hội Hoa Kỳ bác yêu cầu tháo khoán 722 triệu Mỹ kim cuối cùng đã hứa viện trợ cho Sài Gòn, là cơ hội trời cho, Hà Nội không còn sợ Mỹ trừng phạt, dù hiệp định hoà bình rõ ràng hay không, họ vẫn tăng tốc cuộc chiến chiếm trọn miền Nam. Bằng chứng là Hiệp Định đình chiến Genève 1954 đã quy định rõ ràng các viên chức thuộc chính quyền Quốc Gia phải vào phía Nam, và phe Việt Minh phải tập kết ra phía Bắc vĩ tuyến 17. Nhưng, lãnh đạo hàng đầu của cộng sản như Lê Duẩn, đã cố tình vi phạm Hiệp Định ngay khi nó mới được bắt đầu thi hành, đã lên tầu cho mọi người thấy, rồi nửa đêm trốn ở lại, đặt cơ sở cho cuộc chiến sau này.
Với những người cộng sản, và đôi khi cả những người không cộng sản, danh dự chỉ là cái vỏ bọc cho cơ hội.
Chỉ hai năm sau khi Washington và Hà Nội đạt được “hoà bình trong danh dự” tại Paris, bản đồ VN dưới vĩ tuyến 17 đã bị nhuộm đỏ trong nháy mắt, đưa tới hồi kết không thể tránh: Mỹ rời khỏi Việt Nam. Nhưng ra đi như thế nào, vào lúc nào, và với ai, là điều không đơn giản.
Đến trách nhiệm của người đi
Quân Mỹ chiến đấu đã rút hết khỏi VN từ sau Hiệp Định Paris, tuy vậy, vẫn còn lại mấy ngàn người Mỹ là nhân viên ngoại giao, các chuyên viên kỹ thuật, kiến thiết, doanh nhân, ngân hàng…. Mỹ có trách nhiệm đưa hết người Mỹ về nước, và trách nhiệm cả với những người Việt đã tin tưởng, cộng tác, hay làm việc cho Mỹ. Vào tháng Tư, tin tình báo cho biết quân cộng sản cố lấy Sài Gòn để mừng sinh nhật HCM vào ngày 19 tháng 05, 1975. Mỹ cố gắng hoàn tất việc ra đi vào cuối tháng Tư. Ngược dòng với những người đôn đáo cố gắng ra đi, có những người từ ngoại quốc liều lĩnh quay lại Sài Gòn, như cựu đại uý bộ binh Mỹ Stuart Herrington, cố gắng xoay xở đưa bạn bè hoặc thân nhân người Việt ra đi. Có bốn kế hoạch ra đi đã được dự trù: đầu tiên là máy bay thương mại, thứ nhì là máy bay quân sự, kế tiếp là tầu thuỷ, cuối cùng là máy bay trực thăng ra Hạm Đội số 7.
Các kế hoạch trên đã không thể thực hiện như dự tính. Những ngày cuối tháng Tư 1975, có tới năm ngả di tản khỏi Sài Gòn:

 1- Đi theo ngả DAO, diễn ra trong mười ngày cuối cùng của tháng Tư, dành cho nhân viên quân sự người Mỹ, người Việt và thân nhân hoặc những người quen biết. Đây là cuộc di tản sớm nhất, kín đáo nhất, do một số giới chức quân sự Mỹ chủ trương, không qua sự đồng ý chính thức hoặc dưới sự kiểm soát của nhà cầm quyền VNCH. Có người đã dùng chữ “lậu” (black-ops) để chỉ ngả ra đi này, bằng máy bay quân sự Mỹ, lúc đầu là máy bay vận tải C-141 và C-130, từ Tân Sơn Nhứt tới căn cứ không quân Mỹ Clark Airbase ở Philippines. Sau khi Tân Sơn Nhứt và khu DAO tại đây bị pháo kích sáng sớm 29-04, trực thăng được sử dụng để chở người ra Hạm Đội 7. Rất ít hình ảnh được phổ biến cả từ nơi đi và nơi đến của ngả di tản này.
2- Đi theo ngả Toà Đại Sứ Mỹ. Đây là cuộc di tản ồn ào nhất, lộ liễu nhất, và được chú ý nhiều nhất, bắt đầu từ sáng 29, chấm dứt sáng sớm hôm 30 tháng Tư, sẽ nói thêm.
3- Đi bằng tầu Hải Quân VNCH, rời Sài Gòn tối 29, tập trung ở Côn Sơn ngày 30 tháng Tư, tới căn cứ Hải Quân Mỹ ở Subic Bay, Phi Luật Tân, ngày 07 tháng Năm, sẽ nói ở cuối bài.
4- Một số cá nhân hoặc nhóm, một mình hoặc cùng với thân nhân đi bằng trực thăng loại nhỏ Huey của VNCH, một số không đủ nhiên liệu bay xa, được cho đáp xuống hộ tống hạm Mỹ USS Kirk, hoạt động gần đất liền hơn Hạm Đội 7. Vì không đủ chỗ chứa, 13 trực thăng sau khi đáp đã bị đẩy xuống biển. Số đông hơn đủ nhiên liệu bay tới Hạm Đội 7, gần 20 tầu, dưới quyền chỉ huy từ soái hạm Blue Ridge, xếp hàng chờ đợi cách Vũng Tầu khoảng trên ba chục cây số. Tướng Nguyễn Cao Kỳ tự mình lái trực thăng chở Tướng Ngô Quang Trưởng cũng đáp xuống Blue Ridge. Một quân nhân Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ kể lại, nhìn lên trời lúc đó, trực thăng tị nạn đông như đàn ong về tổ. Có 5 chiếc bị đụng bể khi đáp, mảnh vỡ bay tứ tung, xuýt gây tai nạn. Một chiếc rớt xuống biển.
Điều lạ trong Last Days in Vietnam, vào thời máy quay phim còn rất hiếm, không rõ bằng cách nào bộ phim đã có được hình ảnh chuyến đi đầy kịch tính của gia đình thiếu tá phi công Nguyễn Văn Ba, từ khi ông lái chiếc trực thăng khổng lồ CH-47 đáp xuống sân vận động gần nhà, đón vợ và ba con nhỏ, bay đến USS Kirk. Trực thăng quá lớn, dài hơn 30 mét và nặng trên 10 tấn, nếu đáp xuống, có thể gây tai nạn, hoặc làm đắm tầu. Ông Ba đã tài tình cho máy bay quần rất thấp, hai con và vợ với con gái út một tuổi lần lượt nhảy xuống, để những bàn tay thuỷ thủ đỡ lấy. Riêng ông Ba, đã điều khiển cho trực thăng nghiêng về một phía, tạo thế cho cỗ máy trị giá trên 30 triệu đô la “chổng gọng” trên mặt biển, cùng lúc phóng ra từ phía kia, lặn xuống để tránh những mảnh vỡ khi máy bay chạm nước. Mọi người hồi hộp căng thẳng chờ đợi, rồi reo hò mừng vui thấy đầu ông nhô lên khỏi mặt nước. Không phải chỉ có mình thiếu tá Ba và vợ con ông là những người liều lĩnh. Những ai tự nguyện đứng dưới bụng chiếc trực thăng nặng hơn hai chục ngàn cân để đỡ người nhảy xuống, cũng là những người can đảm cùng mình; chỉ một sơ sẩy nhỏ, cũng toi mạng.
clip_image002
 Trực thăng CH-47 lái bởi Thiếu tá Phi công Nguyễn Văn Ba bay xà trên USS Kirk
5- Đi bằng tầu buôn vào sáng 30 tháng Tư, như Việt Nam Thương Tín, Trường Xuân, xà lan, và nhiều tầu nhỏ khác. Ngả di tản này cũng đầy hiểm nguy gian khổ. Chính trên boong tầu Việt Nam Thương Tín, nhà văn nhà báo Chu Tử đã thiệt mạng vào trưa 30-04 vì mảnh đạn pháo kích của cộng sản bắn đuổi theo người ra di, trước cửa sông Lòng Tảo, ngang Vũng Tầu. Tầu Trường Xuân chở tới bốn ngàn người, vớt từ nhiều thuyền nhỏ, thiếu thốn đủ thứ, gian nan tới được Hồng Kông.
Còn một cuộc ra đi nữa bằng tầu, từ Cần Thơ, ít người biết tới. Khi được phỏng vấn về cuốn phim Last Days in Vietnam, Rory Kennedy cho biết đã có đầy đủ tài liệu về chuyến đi này, nhưng sợ quá rườm rà, đã loại khỏi bộ phim. Ông Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Cần Thơ, khi được lệnh sử dụng hai trực thăng để ra đi cùng những nhân viên người Mỹ, đã không đành lòng bỏ lại các nhân viên người Việt và thân nhân của họ, sợ họ sẽ bị cộng sản bách hại. Vì tình người, hành động theo lương tâm, ông bỏ trực thăng, dùng tiền của mình mua hai chiếc tầu, chở tất cả 450 người rời lãnh sự quán theo sông ra biển. Hành trình cũng đầy gian nan, vừa bị bắn, vừa bị phía hải quân VNCH cản trở. Cuối cùng cũng ra tới biển.
Cuốn phim Last Days in Vietnam chỉ chú trọng nhiều tới cảnh ra đi từ Toà Đại Sứ, không có cảnh tới Hạm Đội 7; một phần cảnh tới USS Kirk, và ít hơn về quang cảnh trên Hạm Đội Việt Nam. Hoàn toàn vắng bóng cuộc ra đi theo các ngả 1 và 5. Ấy là chưa kể cuộc di tản của không quân VNCH, trước đó các phi công đã được lệnh lái một số phi cơ chiến đấu qua Thái Lan.
Người khổng lồ chậm chạp
Vì tình hình biến chuyển quá nhanh, sau khi phi trường Tân Sân Nhứt bị pháo kích vào đêm 28 rạng sáng 29, phá hư một số máy bay, đường băng, và hai Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ thiệt mạng tại khu vực DAO, chỉ còn kế hoạch cuối cùng được thi hành: Di chuyển bằng trực thăng từ Toà Đại Sứ ra Hạm Đội 7. Mật hiệu tập trung để ra đi bằng mẩu tin “thời tiết Sài Gòn nóng 105 độ F và đang lên”, tiếp theo là bài White Christmas được phát đi trên đài radio quân đội Mỹ vào khoảng hơn 10 giờ sáng 29. Những ai đợi lúc đó mới rời nhà, coi như quá trễ. Trước Toà Đại Sứ đã đông nghẹt, khó chen chân vào. Theo nhân chứng Jim Kean, sĩ quan chỉ huy Đại Đội C Thuỷ Quân Lục Chiến có nhiệm vụ canh giữ Toà Đại Sứ, số đông lúc đó khoảng 10 ngàn người.
Thi hành một công tác lớn, dù là cỡ chiến dịch, thường chỉ do một bộ chỉ huy ra lệnh. Kế hoạch của Mỹ rút khỏi VNCH vào ngày cuối cùng liên hệ tới nhiều cơ quan, nhiều cấp chỉ huy khác nhau, ở rải rác trên nửa địa cầu, trải rộng 12 múi giờ. Vì thế, đã gặp nhiều trục trặc và chậm trễ đáng tiếc. Tổng Thống Ford và Ngoại Trưởng Kissinger trực tiếp theo dõi, và ra chỉ thị từ Bạch Ốc. Đón người là Hạm Đội 7, chỉ huy từ soái hạm Blue Ridge, dưới quyền bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương ở Hawaii. Phương tiện di chuyển và nhân sự thi hành thuộc Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến, chỉ huy từ chiến hạm Okinawa. Người chỉ huy tại hiện trường Sài Gòn là Đại Sứ Martin.
Sau khi tự mình tới Tân Sơn Nhứt quan sát những thiệt hại do cộng sản pháo kích gây ra vào hồi sáng sớm, Đại Sứ Martin đồng ý di tản theo kế hoạch cuối cùng bằng 75 trực thăng của TQLC, chở người từ Toà Đại Sứ ra thẳng Hạm Đội 7. Một số người không thể vào được Toà Đại Sứ đã được bốc từ các địa điểm khác bằng trục thăng nhỏ, đưa vào khu DAO ở TSN, lên trực thăng lớn ra Hạm Đội 7. Bức hình nổi tiếng thế giới, chụp những người nối đuôi nhau trên cầu thang dẫn lên trực thăng, nhiều người vẫn tưởng là đậu trên nóc Toà Đại Sứ. Thật ra, đó là toà nhà ở số 22 đường Gia Long, bên dưới là trụ sở USAID, tầng trên cùng do CIA sử dụng.
Kế hoạch “Frequent Wind” được chính thức loan báo bắt đầu vào lúc 10:51 sáng 29 tháng Tư. Nhưng vì các cấp chỉ huy mỗi thành phần trách nhiệm phải liên lạc, thảo thuận và xác nhận với nhau, rồi cấp thừa hành phải đợi lệnh từ cấp chỉ huy trực tiếp của mình. Kết quả là mãi tới 12:15 PM kế hoạch mới được lệnh thi hành. Nhưng vẫn còn điều cần làm sáng tỏ, ví dụ, giờ nào là giờ chính thức; giờ GMT, giờ Washington, giờ Hawaii, giờ Okinawa, hay giờ Sài Gòn? Rồi vì quá nhiều thông tin viễn liên được gửi qua gửi lại giữa các cấp chỉ huy, hệ thống truyền tin bị quá tải, trục trặc. Cuối cùng, đến 3 giờ chiều, kế hoạch mới thực sự bắt đầu. Chiếc CH-53 đầu tiên bốc người từ Toà Đại Sứ đáp xuống tầu Blue Ridge vào lúc 3:40. Nếu không có những trục trặc chậm trễ này, khoảng thời gian phí phạm từ gần 11 giờ sáng đến 3 giờ chiều, đã giúp được hàng ngàn người đi thoát.
clip_image004
Tự mình làm con tin
Qua lời phát biểu của các viên chức xuất hiện trong Last Days in Vietnam, cũng như theo quan điểm của một số bài điểm phim, Đại Sứ Martin là một người thiển cận, không biết rõ tình hình, và cứng đầu. Mãi đến những ngày cuối cùng, ông vẫn không chịu thừa nhận tình trạng tuyệt vọng của VNCH, không chính thức cho thi hành cuộc triệt thoái khỏi VN. Và cho đến ngày chót, ông vẫn cưỡng lại lệnh ra đi, cố ở lại cho đến lúc không thể trì hoãn thêm.
Người viết bài này nghĩ rằng Đại Sứ Martin là một người có tinh thần trách nhiệm cao, sáng suốt, và rất nặng tình với người Việt Nam.
Mọi người thừa biết, không có võ khí của Nga, Tầu, miền Bắc không thể đánh miền Nam, và không có sự giúp đỡ của Mỹ, miền Nam không thể ngăn được bước tiến của miền Bắc. Ngay cả những nước mạnh hơn, và trong thời bình, như Tây Đức và Nam Hàn, mỗi nơi cũng cần tới mấy chục ngàn quân Mỹ đồn trú thường trực, để đối phó với cộng quân khi cần. Cho nên, giây phút Mỹ chính thức cuốn gói rời Sài Gòn, là tín hiệu toàn miền Nam rơi vào tay cộng sản. Xã hội sẽ náo loạn, ngay cả người Mỹ cũng khó rút đi an toàn. Đợi cho đến sáng 29, sau khi có điện văn chính thức của tân Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu, yêu cầu Mỹ rút trong vòng 24 giờ, Đại Sứ Martin mới chính thức thi hành kế hoạch di tản. Như vậy, trên danh nghĩa, Mỹ ra đi vì bị đuổi, không phải tự ý bỏ đi. Sau này, qua một cuộc phỏng vấn, được hỏi tại sao đuổi Mỹ trong tình trạng nguy ngập như thế, ông Mẫu cho biết đã làm theo yêu cầu của Đại Sứ Martin.
Chiều 29 tháng Tư, Toà Đại Sứ có hai bãi đáp dành cho hai loại trực thăng CH-46 trên nóc nhà, và CH-53 dưới sân đậu xe, sau khi đã đốn một cây me lớn. Washington chỉ thị Đại Sứ Martin ra đi sớm, và người Mỹ đi ưu tiên. Ông Martin không chống lại lệnh thượng cấp, nhưng chần chừ không chịu đi. Đồng thời, quy định người đi trên mỗi chuyến bay theo tỉ lệ khoảng 10 người có một người Mỹ. Ngoài ra, một số nhân viên toà đại sứ Nam Hàn, đã vào được Toà Đại Sứ Mỹ, luôn yêu cầu được ưu tiên ra đi, nhưng chỉ được đối xử như mọi người.
Phi công định ngừng cầu không vận khi trời tối. Toà Đại Sứ yêu cầu tiếp tục, cam kết có đủ ánh sáng, bằng cách gom một số xe hơi lại, cùng chạy máy, mở đèn pha chiếu thẳng vào bãi đáp. Hơn 9 giờ rưỡi tối, có lệnh từ Hạm Đội 7 chấm dứt kế hoạch vào lúc 11 giờ. Ông Đại Sứ vẫn yêu cầu tiếp tục. Khoảng nửa đêm, lại có lệnh chỉ còn 20 chuyến bay nữa, trong khi vẫn còn 850 người chờ được bốc, chưa kể 225 Quân nhân Thuỷ Quân Lục Chiến. Bên ngoài, vẫn còn hàng chục ngàn người.
Khoảng 4 giờ sáng 30 tháng Tư, Đại Uý phi công Gerald L. “Gerry” Berry, được lệnh đáp chiếc CH-46 trên nóc Toà Đại Sứ, và phải đợi đến khi Đại Sứ Martin lên máy bay, mới được cất cánh. Ông Martin vĩnh biệt nhiệm sở lúc 4:58 phút. Sau ông, chỉ còn những chuyến bay chở Thuỷ Quân Lục Chiến ra đi. Ông Martin đã tự biến mình thành con tin, để Bạch Ốc không thể ngừng sớm cuộc di tản. Tuy nhiên, ông đã không thành công hoàn toàn; số người kẹt lại trong khuôn viên Toà Đại Sứ khoảng trên dưới 400.
Tư Lệnh Hạm Đội 7, Phó Đô Đốc George Steele, cũng có cùng quan điểm:
“Một điều không được biết nhiều là Đại Sứ Martin tìm cách đề mang đi một số lớn người Việt từ Toà Đại Sứ. Nó có vẻ như một con số bất tận, và người cùng máy móc của chúng tôi bắt đầu thấm mệt…Tôi không muốn cho bắt ông. Nhân vật số ba của Đại Sứ Quán đáp xuống Blue Ridge xác nhận báo cáo rằng Đại Sứ bệnh và kiệt sức. Qua lòng thành đối với các đồng nghiệp Việt Nam của chúng ta, ông đã cố gắng giữ cho cuộc di tản kéo dài bất tận, và theo quan điểm của tôi, ráng giữ cho nó tiếp tục bằng cách tự mình không ra đi” (*).
Phép lạ bị lãng quên
Trong một bài phổ biến trên RFA sau khi xem Last Days in Vietnam, Tổng Biên Tập của đài này là nhà báo lão thành Dan Southerland viết:
Cuốn phim cũng kể câu chuyện về Richard Armitage, khi đó 30 tuổi, sĩ quan cố vấn của hải quân Việt Nam, về sau đảm nhiệm những chức vụ cao cấp trong Bộ quốc phòng và Bộ ngoại giao Hoa Kỳ dưới thời các Tổng thống Reagan và Bush.
Armitage làm việc chặt chẽ với hạm trưởng tàu Kirk cùng các sĩ quan hải quân khác để đưa 30 chiếc tàu của Hải quân Việt Nam cùng với mấy chục tàu đánh cá và tàu vận tải đầy người tị nạn trốn chạy khỏi Việt Nam. Đài Truyền thanh Quốc gia (NPR của Hoa Kỳ) trong phóng sự riêng về chiến hạm USS Kirk, đã viện dẫn thống kê cho thấy có tới 30 ngàn người chen chúc nhau trên những con tàu này. Một số tàu không thể nhúc nhích được, tàu khác phải kéo đi. Nhiều chiếc khác bị vô nước. Thật là một phép lạ khi đoàn tàu ấy, với sự giúp đỡ của người Mỹ, đã vượt được cả ngàn dặm về hướng đông để đến được bờ bến Philippines an toàn.
Nếu gọi đây là “phép lạ” thì người viết bài này, nhờ may mắn có mặt trên chiến hạm HQ-3, soái hạm của đoàn tầu Việt Nam, có thể nói rõ những ai đã làm được phép lạ này, và họ đã bị lãng quên ra sao.
Sau này, xem các bộ phim The Fall of Saigon, Lucky Few, và Last Days in Vietnam, tôi mới được biết Đại Tá Hải Quân Đỗ Kiểm, là người được trao trách nhiệm tổ chức đưa toàn bộ hạm đội VN ra đi, để khỏi rơi vào tay cộng sản. Trên HQ-3, tôi cứ đinh ninh Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh là người chỉ huy chuyến đi. Trên tầu, còn nhiều tướng lãnh cao cấp hơn, nhưng chỉ thấy Tướng Minh (thuỷ thủ gọi là “Đô đốc Minh” – hình như trong hải quân, ai đeo sao cũng được gọi là “Đô Đốc”) qua lại, đôn đốc, ra chỉ thị, hay lên tiếng trên hệ thống loa phát thanh. Chiều 30 tháng Tư 1975, ba chục chiếm hạm của VNCH tập trung ở Côn Sơn, đa số chở đầy người tị nạn, chưa biết sẽ đi đâu. Được hỏi, Tướng Minh nói vẫn chưa biết đi đâu. Ông thêm: Có một sĩ quan liên lạc sắp đến từ Hạm Đội 7, ông này sẽ cho biết mình đi đâu. Với thái độ phấn khởi, Tướng Minh tiết lộ thêm: “Tay” này còn trẻ, rất có cảm tình với Hải Quân VN, tên là Richard Armitage, biết nói tiếng Việt, có tên Việt là Trần Văn Phú, vì thánh tổ hải quân VN họ Trần, Văn là tên đệm của đa số đàn ông VN, Phú là giầu = rich, từ tên Richard. Khi ông Armitage, thường phục, từ tầu liên lạc nhỏ leo lên HQ-3, đã được Tướng Minh chào đón nồng nhiệt. Sáng 01 tháng 05, sau khi vớt thêm một số người từ Côn Sơn, cũng như một số người xuống tầu nhỏ trở về, đoàn tầu được lệnh nhổ neo, trực chỉ Philippines.
Nhìn toàn cảnh, đoàn chiến hạm VNCH xếp hàng ba, mỗi hàng 10 chiếc, cùng di chuyển trên mặt nước yên lặng xanh như thuỷ tinh, giống như trong một cuộc thao diễn khổng lồ, rất ngoạn mục. Ban đêm, đoàn tầu lên đèn sáng trưng, như cả một thành phố di chuyển. Nhưng thực trạng, đó là những chiếc tầu rất cũ, Mỹ đã phế thải trước khi viện trợ cho VN tái sử dụng. Không hiểu trong tài khoản viện trợ, chúng đã được định giá ra sao. Có thể dân Mỹ vẫn tưởng, tiền thuế của họ đã được dùng để mua tầu mới viện trợ cho VN. Đoàn tầu di chuyển rất chậm, có chiếc phải ròng dây kéo đi. Có chiếc bị nước vào, phải phân chia người tị nạn sang các tầu khác, rồi bị bắn chìm. Đi từ Côn Sơn đến Phi, bình thường, chỉ mất hai ngày hai đêm. Đoàn tầu Việt Nam đã phải đi ròng rã trong một tuần.
Hộ tống hạm Mỹ USS Kirk đã hướng dẫn, săn sóc, tận tình giúp đỡ, tiếp tế thuốc men và thực phẩm. Nhưng Hạm Trưởng Jacobs, cũng như sĩ quan liên lạc Armitage, không phải là các nhà phù thuỷ có tài hô phong hoán vũ, “bốc” cả đoàn tầu với 30 ngàn người tị nạn đem từ Việt Nam qua Phi. Cái “phép lạ” làm được công việc này, chính là đoàn thuỷ thủ Hải Quân VNCH.
Đại tá Đỗ Kiểm cho biết, chủ đích của kế hoạch là đem tất cả đoàn tầu ra đi, và thuỷ thủ cùng thân nhân đi càng nhiều càng tốt. Nhưng trước ngày đi, trong khi tướng lãnh và sĩ quan cao cấp biết trước để chuẩn bị, tổ chức cho thân nhân và bạn hữu ra đi, tất cả thuỷ thủ bị cấm trại trăm phần trăm. Trước khi ra đi, họ chỉ được vài giờ về đón gia đình. Sợ không sửa soạn kịp, hoặc không kịp trở lại sẽ mang tội đảo ngũ, nhất là chưa biết sẽ đi đâu, đa số quyết định đi luôn. Hôm sau tại Côn Sơn, sau khi biết lệnh đầu hàng, một số đã xuống tầu nhỏ trở về.
Những thuỷ thủ còn gắn bó với tầu, trên nguyên tắc, vì quân ngũ không còn tồn tại, họ không còn bổn phận phục vụ và tuân lệnh cấp trên. Không ai còn quyền ra lệnh, sai bảo họ nữa. Họ, đương nhiên biến thành người tị nạn, như bất cứ ai khác, muốn làm thì làm, không muốn thì thôi. Cũng chẳng còn chính quyền để trả lương cho họ. Tập thể thuỷ thủ này đã làm việc trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, cả về tinh thần, và vật chất. Về tinh thần, trong khi cấp trên của họ, và cả những người ngoài không quen biết mà họ đang phục vụ, đem được gia đình, bạn hữu đi theo, riêng họ, nặng trĩu lo âu, không biết gia đình ra sao. Điều kiện làm việc của họ khó khăn hơn, chật chội hơn, thiếu thốn hơn, vất vả hơn, vì phải làm thay cho những người vắng mặt, và giúp đỡ hàng ngàn người tị nạn. Từ người lái tầu tới thợ máy, vẫn phải giữ cho mọi việc hoạt động đều đặn. Riêng phần việc nhà bếp gia tăng gấp bội, vừa phải phục vụ các thượng khách và gia đình, vừa phải cung cấp cơm cháo cho đồng bào tị nạn. Trong tình trạng như vậy, các thuỷ thủ vẫn cố gắng chịu đựng, làm việc trong kỷ luật, trật tự, và tinh thần trách nhiệm, đưa đoàn tầu và người tị nạn tới bến.
Thật ra, chẳng có phép lạ nào hết. Đó chỉ là thành tích đáng kính phục của các thuỷ thủ Hải Quân VNCH, những đơn vị cuối cùng trong quân lực vẫn còn hoạt động theo đội ngũ, một tuần sau lệnh đầu hàng, để phục vụ đồng bào. Trong gần 40 năm qua, đã có những cuộc gặp gỡ của đông đảo người tị nạn, để cảm ơn Hạm Đội 7, cảm ơn USS Kirk, nhưng chẳng thấy ai nhắc đến, ghi ơn, hay vinh danh những người lính Hải Quân VN đã tạo thành tích được coi như “phép lạ”.
***
Trong một bài đăng trên New York Times ngày 04 tháng 09, 2014, nhà điểm phim A. O. Scott viết rằng “Bây giờ, thời gian đã qua lâu, liên lạc Mỹ Việt đã bình thường, sẽ là điều tốt nếu được nghe tiếng nói của một vài người từ phía bên kia, để được biết những người lính đã suy nghĩ như thế nào khi họ vào Sài Gòn lúc người Mỹ ra đi”. Nhà điểm phim này chắc chưa có cơ hội xem The Fall of Saigon ra đời cách đây 20 năm. Lúc ấy, Mỹ Việt vừa tái lập bang giao, và hai người phía bên kia đã có cơ hội lên tiếng trong phim, là Trần Văn Trà, và viên sĩ quan cấp tá chỉ huy đoàn quân tiến vào Sài Gòn. Không cần nhớ rằng chỉ hai năm trước 1975, phía bên kia đã ký vào Hiệp Định Hoà Bình Paris, quy định nhân dân miền Nam sẽ định đoạt tương lai của mình, Tướng Trà nói rằng: Mong đợi thương thuyết vào phút chót chỉ là ước mơ tuyệt vọng của những kẻ biết mình thua cuộc, chúng tôi đã dứt khoát đạt chiến thắng bằng quân sự. Còn viên sĩ quan cấp tá, đề cập việc binh sĩ VNCH cởi bỏ quân phục sau lệnh đầu hàng, nói: “Họ phải làm như vậy, vì biết rằng, đối với những người đã cầm súng bắn vào Quân Đội Nhân Dân, thế nào chúng tôi cũng phải tiêu diệt.” Cho nên, trong Last Days in Vietnam, không có tiếng nói của phía bên kia, là điều hay. Nếu không, nó sẽ làm hư cả cuốn phim, như để một vài con ruồi đáp vào tô phở ngon.
Last Days in Vietnam, như đã trình bầy, tuy khá hơn hai bộ phim tài liệu trước có cùng nội dung, nhưng cũng chỉ mới trình bầy được một phần, chừng ba chục phần trăm, về toàn cảnh những gì xẩy ra trong mấy ngày cuối tháng Tư cách đây 40 năm. Tuy vậy, đối với nhiều người gốc Việt, bộ phim này cũng đáng giữ làm kỷ niệm, và cho con cháu coi, để chúng biết được một phần, ông bà cha mẹ chúng đã ra đi trong hoàn cảnh như thế nào. Chẳng biết mười năm sau, trong dịp kỷ niệm 50 năm, có còn phim nào, với thêm hình ảnh mới nữa không?
Có một cảnh vào ngày cuối ở Sài Gòn, chưa ai có được, và có lẽ chẳng ai có, đã đươc Larry Berman kể trong Perfect Spy. Đó là cảnh diễn ra chiều 29 tháng Tư: Sau hai lần đến trước Toà Đại Sứ Mỹ mà không vào được, theo chỉ dẫn của Dan Southerland, ký giả của báo Christian Science Monitor, “Điệp Viên Hoàn Hảo” của Hà Nội là Phạm Xuân Ẩn chở Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, vốn được coi là “Trùm mật vụ” của Đệ Nhất VNCH, tới trụ sở CIA ở 22 Gia Long. Ông Tuyến đến đúng lúc cánh cổng đang hạ xuống, và chuyến trực thăng chót đang sửa soạn cất cánh. Được Ẩn đẩy vào, ông Tuyến chạy vội lên nóc nhà. Một cánh tay từ trực thăng đưa ra kéo bổng ông lên. Đó là tay Tướng Trần Văn Đôn, thành viên nhóm đảo chánh, đã từng hạ lệnh bắt và đầy ông Tuyến ra Côn Đảo.

 Đinh Từ Thức

——————
* “One thing not generally known is that Ambassador Martin was attempting to get large numbers of Vietnamese evacuated from the Embassy. lt appeared to be a bottomless pit, and as our men and machines began to tire … I did not want him captured. The number three man in the Embassy arrived on board the Blue Ridge and reported the Ambassador to be ill and exhausted. Through loyalty to our Vietnamese colleagues. he was going to keep that evacuation going indefinitely, and in my opinion, force it to keep going by not coming out himself.”

Wednesday, October 1, 2014

Rory Kennedy: Last Days in Vietnam movie



image
Một bộ phim tư liệu về những ngày cuối cùng trong cuộc chiến Việt Nam do cháu gái cố Tổng thống John F. Kennedy viết kịch bản, sản xuất, và đạo diễn sẽ được công chiếu rộng rãi ở Mỹ từ thứ sáu tuần này.  
Bộ phim nhan đề ‘Những ngày cuối cùng ở Việt Nam’ của nhà làm phim tư liệu Rory Kennedy nói về cuộc chiến Việt Nam và những bài học kinh nghiệm cho người Mỹ từ cuộc chiến này.

image
Đạo diễn Rory Kennedy, cháu gái của cố Tổng thống John F. Kennedy.
Tác giả Kennedy hy vọng qua bộ phim này, người Mỹ sẽ lưu tâm đến bài học từ cuộc chiến Việt Nam nhất là trong thời điểm này với các cuộc chiến mà Hoa Kỳ đang tham gia, đặc biệt ở Iraq và Syria.
Cháu gái cố Tổng thống Kennedy nói bộ phim sẽ giúp người Mỹ tự vấn và trả lời các câu hỏi rằng với cuộc chiến chống tổ chức Nhà nước Hồi giáo ISIS ở Syria và Iraq hiện nay, liệu Mỹ có nên bước vào tham chiến và sách lược thoát ra các cuộc chiến đó như thế nào để là một kết thúc có hậu. Theo tác giả, bước vào chiến tranh vốn là một quyết định khó khăn, nhưng cách bước ra cũng quan trọng không kém.

image
Quan điểm này được Giáo sư Luật Kinh tế Quốc tế, Lan Cao, thuộc đại học Chapman, bang California (Hoa Kỳ) tán đồng. Bà vừa phát hành quyển sách bằng Anh ngữ nói về chiến tranh Việt Nam nhan đề ‘Hoa sen và Bão tố’, thể hiện một lời trách móc về chính sách quân sự-chính trị của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam và những dư âm để lại cho nhiều thế hệ.

image
Nhà văn Lan Cao, con gái cố đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Con gái của Tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng hòa, cố đại tướng Cao Văn Viên, chia sẻ với VOA Việt ngữ:
“Một khi đã bước vào thì cách đi ra cũng rất quan trọng, không thể ‘vắt chanh bỏ vỏ’, và đừng nên dùng các nước nhỏ như một con cờ. Các nước nhỏ khác hiện nay nhìn vào cuộc chiến Việt Nam cũng suy nghĩ rằng làm đồng minh với Mỹ rồi sẽ có lúc bị bỏ rơi, sẽ bị kẻ thù còn lại ngay trong nước đánh.”  

image
Sau khi được trình chiếu tại Lễ Hội Điện Ảnh Sundance hồi đầu năm nay, phim tài liệu ‘Những ngày cuối ở Việt Nam’ được American Experience Films mua bản quyền phát hành và công chiếu ra rạp không bao lâu trước thời điểm đánh dấu 40 năm ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam.

Bộ phim được đánh giá đã góp phần đáng kể vào kho tư liệu về lịch sử chiến tranh Việt Nam.

Đa số những người được phỏng vấn trong bộ phim là các giới chức quân sự Mỹ cắn rứt lương tâm vì kết cục của chiến tranh Việt Nam.

image
Đạo diễn Rory Kennedy là con gái út của Thượng nghị sĩ Robert Kennedy, em ruột cố Tổng thống John Kennedy.

Phim tài liệu 'Last Days in Vietnam'

In The Can: Last Days In Vietnam

Last Days in Vietnam Trailer

Last Days In Vietnam: Rory Kennedy & Alec Baldwin at Hamptons Fm's SummerDocs

Wednesday, August 25, 2010

Đời Tỵ Nạn

Sau tháng tư đen 1975 những chiến hữu Nha Kỹ Thuật di tản sang Hoa Kỳ, đông đảo nhất là Quân Nhân thuộc Sờ Công Tác Nha Kỹ Thuật Bộ Tồng Tham Mưu. Đơn vị sở Công Tác gồm có 5 Đoàn Công Tác, Đoàn 11 và 71 đóng tại Sơn Trà, Đà Nẵng, Đoàn 72 căn cứ Tiên Sa trước Bộ Chỉ Huy Sở Phòng Vệ Duyên Hải NKT cạnh Bộ Tư Lệnh Vùng 1 Duyên Hải bên kia là đèo Hải Vân, Đoàn 75 căn cứ tại Phi Trường Cù Hanh Pleiku và Đoàn 68 nằm trong khu cấm tại Trung Tâm Huấn Luyện Yên Thế, Long Thành, Biên Hòa.

 Cuối tháng 3 năm 1975 sau biến cố Di tàn miền trung Bộ Chỉ Huy Sờ Công Tác từ Sơn Trà Đà Nẵng xuôi Nam về Sàigòn bằng "Hải Lộ Kinh Hoàng" theo những chuyến xà lan, những chuyến tàu đủ loại, những chiếc tàu kéo về đến Nha Trang, Cam Ranh, Vũng Tàu, Làng Cô Nhi Long Thành và cuối cùng là Kho 18 Khánh Hội, Quân 4 Sàigòn chứng kiến hàng ngàn quân nhân và đồng bào đã bỏ mạng trên đoạn đường Hải Lộ Kinh Hoàng này.
 Tháng 3 năm 1975, Đoàn Công Tác 75 đóng tại Pleiku chịu chung số phận với cuộc triệt thoái lịch sữ Cao nguyên, bằng đủ mọi phương tiện, Bộ Chỉ Huy, các Toán cùng khu gia binh, đi tản đường bộ băng rừng những phụ nữ và trẻ em chân tả tơi, giày dép rách nát còn lại những đôi vớ rách nát bao chân, không tiếp tục hành trình, cuối cùng tá túc lại những buôn Thượng, một số khác đã được Phi Đoàn 219 đón giữa rừng và đưa về Tuy Hòa. rồi gặp nhau tại Nha Trang, có người tìm đủ mọi phương tiện cuối cùng số quân nhân còn lại về tập trung tại kho 18 và sát nhập vào các Đoàn thuộc Sở Công Tác tiếp tục nhận lãnh trách nhiệm hành quân thu thập tin túc cho Quân Đoàn 3 cũng như Biệt Khu Thủ Đô.
 Vòng đai thủ đô Sàigòn lúc này đã bị vây chặt bỡi nhiều sư đoàn của cộng quân, cùng chung số phận này Đoàn Công Tác 68 đồn trú tại Long Thành cũng về tại Kho 18 Khánh Hội và tiếp tục hành quân với tất cả các Đoàn khác của Sở Công Tác khu vực hành quân trong thời gian này là vòng đai của Sàigòn giáp ranh vơí Tỉnh Bình Dương, như Ấp Đồn, Bình Triệu, và một số công tác khác thuộc Quận Gò Vấp tỉnh Gia định khu vưc vòng đai Phi Trường Tân Sơn Nhất, phía ngoài Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, Hốc Môn và Xa Lộ Đại Hàn.
Ngoài một số toán chịu trách nhiệm bảo vệ yếu nhân thuộc Bộ Tổng Tham Mưu và một số toạ độ bí mật được giao phó tại Biệt Khu Thủ Đô và các quận của Tỉnh Gia Định.
 Tối 29 tháng 4 năm 1975 BCH Sở Công Tác cùng các Đoàn Công Tác rời sông Sàigòn bằng Đoàn tàu Quân Vận tại Kho 18 cùng với đoàn tàu của Hải Quân, một số toán trong vùng Hành Quân vẫn chưa có phương tiện để về cùng triệt xuất cùng đi, cũng như lần di tản miền Trung khi đoàn tàu rời bải biển Tiên Sa ra khơi một số toán vẫn còn hành quân trên đèo Hãi Vân và sau này hình ảnh lại được xuất hiện trên phim “Mưòi Ngàn Ngày Chiến Tranh Việt Nam” hai tay trên đầu từng ngưòi một ung dung trong thân phận tù binh chiến tranh. Những hình ảnh này về sau lưu lại trên tập Sách Lịch Sữ Chiến Tranh Việt Nam toàn tập 20 cuốn đuưoọ thấy trong các Thư viện Hoa Kỳ. lần này tất cả đoàn tàu trong đêm tối âm thâm di chuyển không một ánh sáng ngoại trừ những ánh sáng lóe lên và tiếng nổ chập chùng của kho đạn thành Tuy Hạ bên kia sông Sàigòn. Trên những chiếc LCM loại đổ bộ có hầu hết Bộ Chỉ Huy Sở Công Tác cùng các đoàn Công Tác được lệnh di tản ra khỏi khu vực Sàigòn đến Hải Phận Quốc Tế. 
 Vào sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 tất cà được di chuyễn qua các Xà lan (loại vận tải tiếp tế đạn dược cho Cam Bốt ) chung quanh có bọc bao cát và lưới kẽm cao quá đầu, cũng vừa lúc ông Dương Văn Minh trên hệ thống truyền thanh tuyên bố bàn giao với chính quyền phía bên kia ( Việt Cộng) lúc ấy vào khoãng 10 giờ sáng. Chấm dứt 5 năm từ ngày thành lập Sở Công Tác tại Nha Trang , 11 năm từ ngày thành lập Nha Kỹ Thuật Tại Thủ Đô Sàigòn và 10 năm trưóc đó của Sở Kỹ Thuật cũng như các hoạt động Quân Sự Tình Báo của đơn vị này từ ngày chia cắt đất nưóc 20 tháng 7 năm 1954 và trước đó.

 Vào trưa ngày 1 tháng 5 từng đoàn tàu hướng về phi luật tân và bỏ lại sau lưng những bom đạn, những chiến tranh và quê hương thân yêu và những ngày tháng sắp đến cho cuộc đời vô định và những tối tăm bao phủ trước mặt, chung quanh và sau lưng.

 Sau những tai nạn như sập xà lan ngoài Hải Phận Quốc Tế, người chết và bị thương, cảnh hổn loạn ngoài biễn đông vào giờ thứ 25 những chiếc tàu ma không người lái zig zag ngoài biễn khơi cuối cùng trực thăng hoa kỳ phải bắn chìm trước khi gây tai nạn, những trực thăng di tản tìm cách đậu vào xà lan chật hẹp và có thể nổ tung khi cánh quạt đụng vào lưới thép bọc bao cát cao quá đầu, những thuyền bè đầy nhóc binh sĩ di tản từ chiến trường Xuân Lộc tìm cách cập vào xà lan để lên tàu Mỹ.
 Vào chiều tối ngày 1 tháng 5 tất cả đã được lên những tàu trên đó có sự bào vệ của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ trực chỉ xuôi nam về Subic Bay căn cứ Quân Sự của Hoa Kỳ tại Phi Luật Tân một trong những chuyến tàu đó là chiếc GREEN FOREST sau khi cập bến Subic Bay một số tàu có vận tải lớn hơn và đi xa hơn đã đậu sẵn và tất cả được chuyễn sang chiếc tàu mới Chiếc AMERICAN RACER có thể chuyên chở đến 5,000 người, và tiếp tục hành trình Subic Bay là nơi một số các tàu Hải Quân VN cập bến làm lễ Hạ Kỳ và bàn giao cho Hải Quân Hoa Kỳ, Chính phủ Phi Luật Tân hạn chế số ngưòi trên Subic Bay là 5,000 ngưòi trong lúc chờ đợi lên Tàu để về Guam số còn lại phải di chuyển qua những hòn đảo khác lân cận.

Chặng đầu tiên chiếc American Racer cập đến Đảo Guam, thuộc lãnh thổ của Hoa Kỳ thuộc Quần Đảo Thái Bình Dương nơi đây những căn lều dã chiến được dựng nên và cũng là trung tâm lập thủ tục cho ngưòi tỵ nạn như I94 đây là một loại thẻ đặc biệt cho ngưòi tỵ nạn như thẻ căn cước thời bấy giờ (không có hình) và có đóng dấu có thể làm việc tại Hoa Kỳ, nơi đây dấu tích của Căn cứ Không Quân Anderson và những phi vụ B52 oanh tạc trong chiến tranh Việt Nam. Sau khi thiết lập thủ tục và thẻ căn cước một số người tỵ nạn được đưa thẳng đến các trại tỵ nạn tại Hoa Kỳ. 
 Một số khác được vận chuyển bằng phi cơ quân sự C141 đến Đảo Wake (khoảng cách giữa Guam và Hawaii) có khỏang vài ngàn ngưòi tạm trú tại đây trong khi những trại tỵ nạn tại những căn cứ Quân Sự Hoa Kỳ tìm những ngưòi bảo lãnh để có chổ trống di chuyễn những ngưòi bên đão vào đất liền, thời gian ở đảo wake có ngưòi ở khoảng vài tháng.
Lúc bây giờ có 4 trại tiếp nhận ngưòi Tỵ nạn Cộng Sản Việt Nam chính là: 

Eglin Air Force Base in Florida,
Fort Chaffee in Arkansas,
Fort Indiantown Gap in Pennsylvania
và trại lớn nhất là Camp Pendleton in California
Đã có 50,424 ngưòi đi qua trại nầy và có một lúc trại này đã tiếp nhận 19 ngàn ngưòi.
Tồng số ngưòi tỵ nạn Cộng Sản vào thời điểm 30 tháng 4 năm 1975 là 133,000 người và người tỵ nạn đầu tiên đến Hoa Kỳ đầu tiên vào ngày 2 tháng 5 năm 1975, riêng các em bé mồ côi Việt Nam và Cam Bốt đã được di chuyển bằng máy bay đến Căn Cứ Bộ Binh tại Presidio of San Francisco, California Fort Benning, Georgia và Fort Lewis, Washington State cũng như căn cứ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ Camp Pendleton, California .
 Trong các trại tỵ nạn hoàn tất các thủ tục giấy tờ và được bảo lãnh bởi những ngưòi Hoa Kỳ giàu lòng nhân ái và qua trung gian của những Cơ Quan Thiện Nguyện gọi là VOLAG như:
Tolstoy Foundation,
American Fund for Czechoslovak Refugees,
YMCA,
United States Catholic Conference (USCC),
Church World Services (CWS),
Lutheran Immigration Aid Society (LIRS),
Hebrew Immigrant Aid Society (HIAS),
International Rescue Committee (IRC),
World Relief Services,
American Council for Nationalities Services (ACNS)
và cơ quan cuối cùng là Persons Granted Asylum.
Hai trại tỵ nạn đông đảo anh em Sở Công tác Nha Kỹ Thuật là Fort Chaffee Tiểu bang Arkansas

Và Camp Pendleton Ocenside, California 
 Tiêu chuẩn xuất trại cho những anh em có thân nhân và gia đình được ra sớm số còn lại đa số lúc ra trại cũng vừa trại sắp đóng cửa, có anh em mãi đến tháng 9 hoặc tháng 10 năm 1975 mới ra khỏi các trại tỵ nạn
(To Be Continue)








Fort Chaffee 1975 The Refugees


The Gates at Camp Pendleton Welcome the Vietnamese Refugee



Camp Pendleton 1975 / Vietnamese Refugee Camp















TAI LIEU DI TAN


DEPARTMENT OF THE NAVY -- NAVAL HISTORICAL CENTER
805 KIDDER BREESE SE -- WASHINGTON NAVY YARD
WASHINGTON DC 20374-5060
Chapter 5: The Final Curtain, 1973 - 1975

During the period from 29 March 1973 to 30 April 1975, the Defense Attaché Office (DAO), Saigon, administered the American military assistance to the Republic of Vietnam. Limited by the Paris Agreement to 50 or fewer military personnel, the activity was staffed predominantly by civilians and contractors. The DAO was responsible for providing supplies and material to the 42,000-man Vietnamese Navy, which operated 672 amphibious ships and craft, 20 mine warfare vessels, 450 patrol craft, 56 service craft, and 242 junks. The quality of personnel in the naval service remained adequate over the two-year period. A drastic cut in U.S. financial support, however, hurt the navy's overall readiness. The U.S. Congress appropriated only $700 million for fiscal year 1975, forcing the Vietnamese Navy to reduce its overall operations by 50 percent and its river combat and patrol activities by 70 percent. To conserve scarce ammunition and fuel, Saigon laid up over 600 river and harbor craft and 22 ships. The enemy did not target the waterways during 1973 and 1974, but such would not be the case in 1975 when the coastal areas of South Vietnam became the war's main operational theater.



Naval Evacuation of I and II Corps

The final test of strength between the Republic of Vietnam and its Communist antagonists that many observers had long predicted occurred in the early months of 1975. Seeking to erode the government's military position in the vulnerable II Corps area, on 10 March Communist forces attacked Ban Me Thuot, the capital of isolated Darlac Province, and routed the South Vietnamese troops there. The debacle convinced President Nguyen Van Thieu that even the strategic Pleiku and Kontum Provinces to the north could not be held and must be evacuated. Accordingly, on the fifteenth, government forces and thousands of civilian refugees began an exodus toward Tuy Hoa on the coast but that degenerated into a panicked flight when the enemy interdicted the main road. The enemy dispersed or destroyed many of the South Vietnamese II Corps units in this catastrophe.

These events set off a chain reaction as the demoralized South Vietnamese troops abandoned port after port along the South Vietnamese coast to swiftly advancing North Vietnamese forces. Learning of the disaster in II Corps and confused by contradictory deployment orders from Saigon, the defenders of I Corps also began to crack. Giving up Hue on 25 March, Vietnamese troops retreated in disorder toward Danang. The Vietnamese Navy rescued thousands of men cut off on the coast southeast of Hue, but heavy weather and the general confusion limited the sealift's effectiveness. On the previous day (24 March) government units evacuated Tam Ky and Quang Ngai in southern I Corps and also streamed toward Danang. Simultaneously, the navy transported elements of the 2d Division from Chu Lai to Re Island 20 miles offshore. With five North Vietnamese divisions pressing the remnants of the South Vietnamese armed forces and hundreds of thousands of refugees into Danang, order in the city disintegrated. Looting, arson, and riot ruled the city as over two million people sought a way out of the ever-closing trap.

During this period of growing chaos in South Vietnam, the U.S. Navy readied for evacuation operations. On 24 March, the Military Sealift Command (MSC), formerly the Military Sea Transportation Service, dispatched the following tugs, pulling a total of six barges, from Vung Tau toward Danang:

Asiatic Stamina
Chitose Maru
Osceola
Pawnee
Shibaura Maru

On 25 March, the following ships were alerted for imminent evacuation operations in South Vietnam:


SS American Racer
SS Green Forest
SS Green Port
SS Green Wave
SS Pioneer Commander
SS Pioneer Contender
SS Transcolorado
USNS Greenville Victory
USNS Sgt Andrew Miller
USNS Sgt. Truman Kimbro

Noncombatants were chosen for the mission because the Paris Agreement prohibited the entry of U.S. Navy or other military forces into the country.

With the arrival at Danang of Pioneer Contender on 27 March, the massive U.S. sea evacuation of I and II Corps began. During the next several days four of the five barge-pulling tugs and Sgt. Andrew Miller, Pioneer Commander, and American Challenger put in at the port. The vessels embarked U.S. Consulate, MSC, and other American personnel and thousands of desperate Vietnamese soldiers and civilians. When the larger ships were filled to capacity with 5,000 to 8,000 passengers, they individually sailed for Cam Ranh Bay further down the coast. By 30 March order in the city of Danang and in the harbor had completely broken down. Armed South Vietnamese deserters fired on civilians and each other, the enemy fired on the American vessels and sent sappers ahead to destroy port facilities, and refugees sought to board any boat or craft afloat. The hundreds of vessels traversing the harbor endangered the safety of all. Weighing these factors, the remaining U.S. and Vietnamese Navy ships loaded all the people they could and steamed for the south. MSC ships carried over 30,000 refugees from Danang in the four-day operation. American Challenger stayed offshore to pick up stragglers until day's end on 30 March, when the North Vietnamese overran Danang.

In quick succession, the major ports in II Corps fell to the lightly resisted Communist advance. Hampered by South Vietnamese shelling of Qui Nhon, Pioneer Commander, Greenville Victory, Korean-flag LST Boo Heung Pioneer, and three tugs were unable to load evacuees at this city, which fell on 31 March. The speed of the South Vietnamese collapse and the enemy's quick exploitation of it limited the number of refugees rescued from Tuy Hoa and Nha Trang. Before the latter port fell on 2 April, however, Boo Heung Pioneer and Pioneer Commander brought 11,500 passengers on board and put out to sea.

Initially, Cam Ranh Bay was chosen as the safe haven for these South Vietnamese troops and civilians transported by MSC. But, even Cam Ranh Bay was soon in peril. Between 1 and 4 April, many of the refugees just landed were reembarked for further passage south and west to Phu Quoc Island in the Gulf of Siam. Greenville Victory, Sgt. Andrew Miller, American Challenger, and Green Port each embarked between 7,000 and 8,000 evacuees for the journey. Pioneer Contender sailed with 16,700 people filling every conceivable space from stem to stern. Crowding and the lack of sufficient food and water among the 8,000 passengers on board Transcolorado led a number of armed Vietnamese marines to demand they be discharged at the closer port of Vung Tau. The ship's master complied to avoid bloodshed, but this crisis highlighted the need for the Navy to provide better security.

As the magnitude of the calamity in I and II Corps became apparent, the Seventh Fleet deployed elements of the Amphibious Task Force (Task Force 76) to a position off Nha Trang. Because of the political restrictions on the use of American military forces in South Vietnam and the availability of MSC resources, however, Washington limited the naval contingent, then designated the Refugee Assistance Task Group (Task Group 76.8), to a supporting role. For the most part, this entailed command coordination, surface escort duties, and the dispatch of 50-man Marine security details to the MSC flotilla at sea. By 2 April, the task group--Dubuque, Durham (LKA 114), Frederick (LST 1184), and the Task Force 76 flagship Blue Ridge (LCC 19)--was monitoring operations at Cam Ranh Bay and Phan Rang. That same night the first Marine security force to do so boarded Pioneer Contender. A second contingent was airlifted to Transcolorado on the fourth. Dissatisfied with the condition of reception facilities on Phu Quoc and ill-tempered after the arduous passage south, armed passengers in Greenville Victory forced the master to sail to Vung Tau. Guided missile cruiser Long Beach (CGN 9) and escort Reasoner (DE 1063) intercepted the ship and stood by to aid the crew, but the voyage and debarkation of passengers proceeded uneventfully. In addition, Commander Task Group 76.8 immediately concentrated Dubuque, guided missile destroyer Cochrane (DDG 21), storeship Vega (AF 59), and the three ships of Amphibious Ready Group Alpha at Phu Quoc to position security detachments on each of the MSC vessels and to resupply the refugees with food, water, and medicines. Naval personnel also served as translators to ease the registration process. By 10 April, all ships at Phu Quoc were empty, thus bringing to a close the intracoastal sealift of 130,000 U.S. and South Vietnamese citizens. With stabilization of the fighting front at Xuan Loc east of Saigon and the Communists preparation for the final offensive, the need to evacuate by sea diminished. By the fourteenth all naval vessels had departed the waters off South Vietnam and returned to other duties.

Eagle Pull

Meanwhile, the Seventh Fleet focused its attention on Cambodia, in imminent danger of falling to the Communist Khmer Rouge guerrillas. Since 1970, the United States had aided the government of President Lon Nol in its struggle with the indigenous enemy and with North Vietnamese forces arrayed along the border with South Vietnam. The American support included a bombing campaign launched from Navy carriers and Air Force bases as far away as Guam and the delivery to Phnom Penh of arms, ammunition, and essential commodities through airlift and Mekong River convoy. Material assistance to the 6,000-man Cambodian Navy included the transfer of coastal patrol craft, PBRs, converted amphibious craft for river patrol and mine warfare, and auxiliary vessels. Despite this aid, by early 1975 the Communists in Cambodia controlled every population center but Phnom Penh, the capital. As the enemy tightened his ring around the city, the resistance of Cambodian government forces began to crumble.

Concluding that it was only a matter of time before all was lost in Cambodia, American leaders prepared to evacuate American and allied personnel from Phnom Penh. Fleet commanders revised and updated long-standing plans and alerted their forces for this special mission, designated Operation Eagle Pull. On 3 March 1975, Amphibious Ready Group Alpha (Task Group 76.4), and the 31st Marine Amphibious Unit (Task Group 79.4) embarked and arrived at a designated station off Kompong Som (previously Sihanoukville) in the Gulf of Siam. By 11 April, the force consisted of amphibious ships Okinawa, Vancouver, and Thomaston (LSD 28), escorted by Edson (DD 946), Henry B. Wilson (DDG 7), Knox (DE 1052), and Kirk (DE 1087). In addition, Hancock disembarked her normal complement of fixed-wing aircraft and took on Marine Heavy Lift Helicopter Squadron (HMH) 463 for the operation. Anticipating the need to rescue as many as 800 evacuees, naval leaders decided that they needed all of the squadron's 25 CH-53, CH-46, AH-1J, and UH-1E helicopters and Okinawa's 22 CH-53, AH-1J, and UH-1Es of HMH-462. The amphibious group also carried the 2d Battalion, 4th Marines, which would defend the evacuation landing zone near the U.S. Embassy, and reinforced naval medical-surgical teams to care for any casualties. Land-based U.S. Air Force helicopters and tactical aircraft were also on hand to back up the naval effort. Commander U.S. Support Activities Group/7th Air Force (COMUSSAG) was in overall command of the evacuation operation.

On 7 April 1975, the American command put Amphibious Ready Group Alpha on three-hour alert and positioned the force off the Cambodian coast. In the early morning hours of 12 April Washington ordered execution of the daring mission. At 0745 local time, Okinawa began launching helicopters in three waves to carry the 360-man Marine ground security force to the landing zone. One hour later, after traversing 100 miles of hostile territory, the initial wave set down near the embassy and the Marines quickly established a defensive perimeter.

Within the next two hours, U.S. officials assembled the evacuees and quickly loaded them on Okinawa and Hancock helicopters. Because many already had left Cambodia by other means prior to the twelfth, the evacuees numbered only 276. The group included U.S. Ambassador John Gunther Dean, other American diplomatic personnel, the acting president of Cambodia, senior Cambodian government leaders and their families, and members of the news media. In all, 82 U.S., 159 Cambodian, and 35 other nationals were rescued.

By 1041 all the evacuees had been lifted out, and little more than one-half hour later the ground security force also was airborne and heading out to sea. At 1224 all aircraft and personnel were safely on board Amphibious Ready Group Alpha ships. Although one Khmer Rouge 75-millimeter shell landed near the embassy landing zone, no casualties were suffered during the entire operation. The following day, task group helicopters flew the evacuated personnel to Thailand and the naval force set sail for Subic Bay. Thus through detailed planning, preparation, and precise execution, the joint evacuation force successfully accomplished the military mission in Cambodia.

The Fall of South Vietnam

The experience gained in Operation Eagle Pull and in the refugee evacuations from South Vietnam's I and II Corps served the fleet well when the Republic of Vietnam, after 20 years of struggle, collapsed under the Communist onslaught. During the latter half of April, U.S. naval leaders prepared ships and men for the final evacuation of American and allied personnel from South Vietnam. The ships of the MSC flotilla were cleaned, restocked with food, water, and medicine; and deployed off Vung Tau in readiness. In addition, Marine security detachments embarked in each of the vessels and prepared to disarm boarding refugees and ensure order. Rincon (T-AOG-77) stood by to provide fuel to Vietnamese and American ships making the exodus from South Vietnam's waters.

The Seventh Fleet also marshalled its forces in the Western Pacific. Between 18 and 24 April 1975, with the loss of Saigon imminent, the Navy concentrated off Vung Tau a vast assemblage of ships under Commander Task Force 76.

Task Force 76
Blue Ridge (command ship)
Task Group 76.4 (Movement Transport Group Alpha)
Okinawa
Vancouver
Thomaston
Peoria (LST 1183)
Task Group 76.5 (Movement Transport Group Bravo)
Dubuque
Durham
Frederick
Task Group 76.9 (Movement Transport Group Charlie)
Anchorage (LSD 36)
Denver (LPD 9)
Duluth (LPD 6)
Mobile (LKA 115)

The task force was joined by Hancock and Midway, carrying Navy, Marine, and Air Force helicopters; Seventh Fleet flagship Oklahoma City; amphibious ships Mount Vernon (LSD 39), Barbour County (LST 1195), and Tuscaloosa (LST 1187); and eight destroyer types for naval gunfire, escort, and area defense. The Enterprise and Coral Sea carrier attack groups of Task Force 77 in the South China Sea provided air cover while Task Force 73 ensured logistic support. The Marine evacuation contingent, the 9th Marine Amphibious Brigade (Task Group 79.1), consisted of three battalion landing teams, four helicopter squadrons, support units, and the deployed security detachments.

After a dogged defense at Xuan Loc, the South Vietnamese forces defending the approaches to Saigon finally gave way on 21 April. With the outcome of the conflict clear, President Thieu resigned the same day. On the 29th, North Vietnamese and Viet Cong forces closed on the capital, easily pushing through the disintegrating Republic of Vietnam Armed Forces. Although U.S. and South Vietnamese leaders had delayed ordering an evacuation, for fear of sparking a premature collapse, the time for decision was now at hand.

At 1108 local time on 29 April 1975, Commander Task Force 76 received the order to execute Operation Frequent Wind (initially Talon Vise), the evacuation of U.S. personnel and Vietnamese who might suffer as a result of their past service to the allied effort. At 1244, from a position 17 nautical miles from the Vung Tau Peninsula, Hancock launched the first helicopter wave. Over two hours later, these aircraft landed at the primary landing zone in the U.S. Defense Attache Office compound in Saigon. Once the ground security force (2d Battalion, 4th Marines) established a defensive cordon, Task Force 76 helicopters began lifting out the thousands of American, Vietnamese, and third-country nationals. The process was fairly orderly. By 2100 that night, the entire group of 5,000 evacuees had been cleared from the site. The Marines holding the perimeter soon followed.

The situation was much less stable at the U.S. Embassy. There, several hundred prospective evacuees were joined by thousands more who climbed fences and pressed the Marine guard in their desperate attempt to flee the city. Marine and Air Force helicopters, flying at night through ground fire over Saigon and the surrounding area, had to pick up evacuees from dangerously constricted landing zones at the embassy, one atop the building itself. Despite the problems, by 0500 on the morning of 30 April, U.S. Ambassador Graham Martin and 2,100 evacuees had been rescued from the Communist forces closing in. Only two hours after the last Marine security force element was extracted from the embassy, Communist tanks crashed through the gates of the nearby Presidential Palace. At the cost of two Marines killed in an earlier shelling of the Defense Attaché Office compound and two helicopter crews lost at sea, Task Force 76 rescued over 7,000 Americans and Vietnamese.

Meanwhile, out at sea, the initial trickle of refugees from Saigon had become a torrent. Vietnamese Air Force aircraft loaded with air crews and their families made for the naval task force. These incoming helicopters (most fuel-starved) and one T-41 trainer complicated the landing and takeoff of the Marine and Air Force helicopters shuttling evacuees. Ships of the task force recovered 41 Vietnamese aircraft, but another 54 were pushed over the side to make room on deck or ditched alongside by their frantic crews. Naval small craft rescued many Vietnamese from sinking helicopters, but some did not survive the ordeal.

This aerial exodus was paralleled by an outgoing tide of junks, sampans, and small craft of all types bearing a large number of the fleeing population. MSC tugs Harumi, Chitose Maru, Osceola, Shibaura Maru, and Asiatic Stamina pulled barges filled with people from Saigon port out to the MSC flotilla. There, the refugees were embarked, registered, inspected for weapons, and given a medical exam. Having learned well from the earlier operations, the MSC crews and Marine security personnel processed the new arrivals with relative efficiency. The Navy eventually transferred all Vietnamese refugees taken on board naval vessels to the MSC ships.

Another large contingent of Vietnamese was carried to safety by a flotilla of 26 Vietnamese Navy and other vessels. These ships concentrated off Son Island southwest of Vung Tau with 30,000 sailors, their families, and other civilians on board.

On the afternoon of 30 April, Task Force 76 and the MSC group moved away from the coast, all the while picking up more seaborne refugees. This effort continued the following day. Finally, when this human tide ceased on the evening of 2 May, Task Force 76, carrying 6,000 passengers; the MSC flotilla of Sgt Truman Kimbro, Sgt Andrew Miller, Greenville Victory, Pioneer Contender, Pioneer Commander, Green Forest, Green Port, American Challenger, and Boo Heung Pioneer, with 44,000 refugees; and the Vietnamese Navy group set sail for reception centers in the Philippines and Guam. Thus ended the U.S. Navy's role in the 25-year American effort to aid the Republic of Vietnam in its desperate fight for survival.



The final test of strength between the Republic of Vietnam and its Communist antagonists that many observers had long predicted occurred in the early months of 1975. Demoralized South Vietnamese troops abandoned port after port along the South Vietnamese coast to swiftly advancing North Vietnamese forces. With five North Vietnamese divisions pressing the remnants of the South Vietnamese armed forces and hundreds of thousands of refugees into Danang, order in the city disintegrated. During this period of growing chaos in South Vietnam, the U.S. Navy readied for evacuation operations. On 25 March 1975, a number of ships were alerted for imminent evacuation operations in South Vietnam. Noncombatants were chosen for the mission because the Paris Agreement prohibited the entry of US Navy or other military forces into the country.

With the arrival at Danang of Pioneer Contender on 27 March 1975, the massive U.S. sea evacuation of I and II Corps began. During the next several days four of the five barge-pulling tugs and Sgt. Andrew Miller, Pioneer Commander, and American Challenger put in at the port. The vessels embarked U.S. Consulate, MSC, and other American personnel and thousands of desperate Vietnamese soldiers and civilians. When the larger ships were filled to capacity with 5,000 to 8,000 passengers, they individually sailed for Cam Ranh Bay further down the coast. Hampered by South Vietnamese shelling of Qui Nhon, Pioneer Commander, Greenville Victory, Korean-flag LST Boo Heung Pioneer, and three tugs were unable to load evacuees at this city, which fell on 31 March. The speed of the South Vietnamese collapse and the enemy's quick exploitation of it limited the number of refugees rescued from Tuy Hoa and Nha Trang. Before the latter port fell on 2 April, however, Boo Heung Pioneer and Pioneer Commander brought 11,500 passengers on board and put out to sea.

On the evening of 2 May 1975 the MSC flotilla of Sgt Truman Kimbro, Sgt Andrew Miller, Greenville Victory, Pioneer Contender, Pioneer Commander, Green Forest, Green Port, American Challenger, and Boo Heung Pioneer, with 44,000 refugees, set sail for reception centers in the Philippines and Guam. Thus ended the 25-year American effort to aid the Republic of Vietnam in its fight for survival.


http://www.npr.org/templates/story/story.php?storyId=129484369&sc=17&f=1001

Forgotten Ship: A Daring Rescue As Saigon Fell
by Joseph Shapiro and Sandra Bartlett
- August 31, 2010
First of three parts
For Americans, the lasting image of the end of the Vietnam War came from the nightly news. On April 29, 1975, television showed the evacuation of Saigon as U.S. Marine helicopters swooped down to the U.S. Embassy and the roof of a nearby CIA safe house to rescue the last 1,000 Americans in the city and some 6,000 Vietnamese and their families who worked for them.
But there was another evacuation that didn't get as much attention. Tens of thousands of Vietnamese found other ways to escape in those frenzied few days. They left in boats and helicopters and headed to the South China Sea. They didn't know if North Vietnamese jets would sink their boats or shoot the helicopters out of the sky.
They did know that the U.S. Navy's 7th Fleet was out there, somewhere, and they headed out to the ocean hoping to be rescued.
One of those U.S. Navy ships was a small destroyer escort, the USS Kirk. As the evacuation began, the Kirk's military mission was to shoot down any North Vietnamese jets that might try to stop the Marine helicopters. The North Vietnamese planes never came.
The approximately 260 officers and men of the USS Kirk weren't prepared for what happened next.
Scores of South Vietnamese military helicopters filled the horizon.
"It looked like bees flying all over the place. And they were just going due east, trying to find someplace to land," said Paul Jacobs, the captain of the Kirk.
Desperate, Looking For A Place To Land
One of the sailors who preserved details of the scene was Hugh Doyle, the Kirk's chief engineer. When he had free time, he would return to his stateroom and sit on his bunk or at a small pull-down desk and dictate cassette tapes of daily events to send home to his wife, Judy, and three children.
His surprise and excitement are evident in the tapes.
"We looked up out on the horizon, and pretty soon all you could see were helicopters. And they came in and it was incredible. I don't think I'll ever see anything like it again," said Doyle, now retired and living in Rhode Island.
The South Vietnamese military helicopters were packed with people -- pilots and their family and friends. And now, as some of the choppers were precariously low on fuel, the pilots were looking for a place to land. Dozens of UH-1 Huey helicopters flew past the Kirk heading for the larger aircraft carriers. The Kirk had only a small flight deck.
Jacobs, the Kirk's captain, wanted in on the action, so he ordered his men to try to make contact with the helicopters and invite one to land.
'Humans More Important Than Hardware'
But the officers and men of the Kirk weren't sure that the South Vietnamese pilots had the skill to land on a moving flight deck.
"Most of the Vietnam pilots had never landed on a ship before. Almost to a man they were army pilots and they typically landed either at fire zones, at little clearings in the brush, or at an airport," recalled Don Cox, an anti-submarine-equipment officer on the Kirk, who is now an engineer for a missile defense company in Arizona.
The sailors stood on the landing deck and directed the first helicopter in. They unloaded its passengers and directed a second helicopter in. There we now several others buzzing overhead waiting to land.
"I believe it was the third aircraft that landed and chopped the tail off the second aircraft that had landed. There was still helicopters circling wanting to land. There was no room on our deck so we just started pushing helicopters overboard. We figured humans were much more important than the hardware," Cox said.
One or two sailors would jump into the helicopter and grab whatever hardware they could find -- batteries, radios -- as other sailors were bouncing and pushing the machine toward the edge of the deck and over into the sea.
These scenes were repeated on other Navy ships. Helicopters would land, refugees would jump off and sailors would quickly push the helicopters overboard to make room for more. That happened on large ships, including the USS Hancock and USS Midway, both aircraft carriers, and the USS Blue Ridge, the headquarters ship for the Navy's 7th Fleet. It also happened on other smaller ships, like the USS Cook, another destroyer escort like the Kirk.
'Catching Babies Like Basketballs'
Amid the chaos, a larger helicopter moved toward the Kirk. It was a Chinook CH-47, with two rotors that would tear the ship apart if it tried to land. The sailors made frantic signals telling the pilot he couldn't land. The pilot got the message but he was determined to unload his passengers.
Doyle described the scene to Judy in his cassette tape recording.
"Picture this, we're steaming along at about 5 knots. And this huge airplane comes in and hovers over, over the fantail, opened up its rear door, and starts dropping people out of it. It's about 15 feet off the fantail! There's American sailors back on the fantail, catching babies like basketballs!" he said at the time.
A young mother in the helicopter -- the wife of the pilot -- dropped her three young children, including her 10-month-old baby daughter.
Kent Chipman, a 21-year-old Texan, was one of the sailors who ran under the helicopter to catch the people who jumped out. "I remember the baby coming out," he recalled. "You know, there was no way that we were going to let them hit the deck or drop them. We caught them."
A Miraculous Escape
Once the passengers were out of the big Chinook, the co-pilot jumped to the deck. But now the pilot was running out of fuel and surrounded by flat, blue ocean. He flew about 60 yards from the Kirk.
The sailors could see the pilot in the cockpit taking off his clothes as he hovered the aircraft. They watched as he leaned the helicopter to the left and jumped out the right-hand side into the water.
"Soon as the blades hit the water, they exploded -- there were small pieces, but there were also pieces, probably 10, 15 feet long, big pieces go flying out. It sounded like a giant train wreck, you know, in slow motion and it's loud, you know, wind is blowing everywhere," said Chipman, who then worked as a machinist's mate keeping the ship's engine running and who today helps operate a water purification plant in Longview, Texas.
Chipman and the others on deck assumed the pilot had died as the helicopter exploded in the water. But then the man came to the surface and Chipman was thrilled. "To see that kind of destruction, you think this guy just sacrificed his life. But he popped right out of the water and it was amazing."
Excited sailors from the Kirk dove into the water to save the pilot, but others -- already in the water in a small boat -- got to him first and brought him back to the Kirk.
The pilot and his family were among some 200 refugees rescued from 16 helicopters by the Kirk's crew over a day and a half. The sailors looked after their Vietnamese visitors, over half of whom were women, children and babies. They put up tarps on the deck so they would have some shelter from the blazing sun. They distributed food and water and played games with the children. The ship's crew found themselves changing diapers, treating wounds and giving comfort.
On the second day, the refugees were moved to a larger transport ship.
"These people were coming out of there with nothing. Whatever they had in their pockets or hands. Some of them had suitcases; some of them had a bag," Chipman says. "You could tell they'd been in a war. They were still wounded. There were people young, old, army guys with the bandages on their head, arms -- you could tell they'd been in a fight."
Heroism Gives Vietnamese Chance At New Lives
But the Kirk's mission was about to change -- and suddenly. The rescue of the refugees from those helicopters was just a start. The ship and its crew would eventually help save 20,000 to 30,000 Vietnamese refugees fleeing aboard the vessels of the South Vietnamese navy.
It's one of the greatest humanitarian missions in the history of the U.S. Navy, but it's a story that has largely gone untold until recently, lost in the bitterness over the Vietnam War.
Most of the South Vietnamese saved by the Kirk eventually moved to camps in the United States and then resettled in communities across the country.
The officers and men of the Kirk never knew the names -- with a few exceptions -- of the men, women and children they had rescued.
But over the past decade, the crew members started getting together at reunions. They always found themselves marveling at the masterful airmanship of the pilot of the Chinook. The crew started to wonder what happened to that pilot, his family and the others they helped save.
Last year, Jacobs -- along with Jan Herman, a historian with the Navy's Bureau of Medicine who is now documenting the story of the Kirk -- gave an interview to a Vietnamese television show in Virginia. They talked of wanting to find that pilot.
It didn't take long for word of their search to spread in the community of Vietnamese now established across America. And that's how Ba Nguyen and his family were found. Nguyen and his wife, now American citizens, live in Seattle, where both worked for the aerospace giant Boeing.
The Kirk crew held a reunion this summer outside Washington, D.C., and invited Nguyen and his family. The pilot came, pushed in his wheelchair into the ballroom by his wife and children.
The Kirk crew surprised Nguyen by honoring him, and pinning an Air Medal on his sport coat. The medal, presented on behalf of the USS Kirk alumni association, is given by the U.S. military to note heroic feats of airmanship.
"This is our story," said his son Miki Nguyen, who was 6 years old at the time of the rescue. "This is how we started in America." [Copyright 2010 National Public Radio]
To learn more about the NPR iPhone app, go to 

http://iphone.npr.org/recommendnprnews