Wednesday, April 22, 2026

Hình ảnh những ngày cuối cuộc chiến Việt Nam Nhiếp Ảnh Gia Trần Khiêm








































 

Nhiếp Ảnh Gia Trần Khiêm Triển Lãm Ảnh 35 Năm Nhìn Lại:Những Bức Ảnh Lịch Sử Cuộc Di Tản Miền Trung 29-3-1975





 

Thưởng thức những bức ảnh của Nhiếp Ảnh Gia Trần Khiêm trong cuộc triển lãm ảnh tại Việt Herald.

Westminster ( Bình sa ) - -  Thứ Bảy 1 tháng 5 năm 2010  tại hội trường Nhật Báo Việt  Herald, nhiếp ảnh gia Trần Khiêm đã tổ chức buổi triển lãm ảnh "35 năm nhìn lại cuộc di tản miền Trung 29 tháng 3 năm 1975." 
Nhiều đồng hương đến xem ảnh để hồi tưởng lại những ngày tháng đau thương nhất trong cuộc chiến, đây là những tấm ảnh lịch sử giá trị.
Triển lãm trưng bày gần 100 tấm ảnh trắng đen do nhiếp ảnh gia Trần Khiêm ghi nhận lại những chuyện xảy ra tại cuộc di tản miền Trung cách đây 35 năm. Những người khác đến xem trong số có: DB Trần Thái Văn, sau khi xem các bức ảnh ông đã trao bằng tưởng lục cho nhiếp ảnh gia Trần Khiêm, và ông nói: "Tôi nghĩ chúng ta cần một viện bảo tàng để cất giữ những tấm ảnh có giá trị lịch sử này cho tương các thế hệ mai sau tìm hiểu để biết những gì đã xảy ra."
Tiếp theo Nghị Viên Westminster Tạ Đức Trí phát biểu: "Tôi không ngờ mình được xem những tấm ảnh độc đáo như vậy. Đây là những tấm hình cần được lưu giữ để thế hệ mai sau biết Cộng Sản như thế nào."
Ông Võ Đại Tôn đến từ  Úc nhân chuyến đi công tác tại Little Saigon cũng đến xem và nói: "Cần lưu trữ những tài liệu này. Đây là những tấm ảnh vô giá."

Được biết  nhiếp ảnh gia Trần Khiêm, từng làm việc cho hai đài truyền hình CBS và ABC trong cuộc chiến Việt Nam, những tấm hình triển lãm ghi lại cuộc di tản của dân chúng và quân đội khi  quân cộng sản tiến vào Huế và Đà Nẵng.
Hình ảnh trưng bày thành hai vực khác nhau, một bên là hình ảnh dân sự và bên kia là quân sự.
Những bức hình dân sự cho thấy, đa số nạn nhân của chiến tranh là phụ nữ và trẻ em. Có một tấm hình cho thấy đoàn người toàn phụ nữ và trẻ em gồng gánh đồ đạc đi bộ trên đèo Hải Vân.
Bà Thương Đặng, cư dân West Palm Beach, Florida, nói: "Tôi ứa nước mắt khi nhìn những tấm hình này. Tôi cũng là một người di tản từ Đà Nẵng vào Nam cách đây 35 năm, trong đoàn người này. Một thằng em trai tôi, thiếu úy bộ binh Thành Đặng, cũng hy sinh trong cuộc chiến khi còn rất trẻ."
Ông Lê Chiêu Tài, cư dân Huntington Beach, cũng không kềm được lòng khi xem triển lãm. Ông nói: "Buồn. Đây là những đau thương của cuộc chiến, là thảm cảnh chiến tranh, đất nước và người dân vô tội đau khổ nhất trên thế giới. Tôi nghĩ, ngay cả cuộc chiến tại Iraq cũng không tàn khốc bằng cuộc chiến Việt Nam 35 trước đây."
Đây là một cuộc triển lãm đã làm cho người xem không nén được sự xúc động khi nhìn và nhớ về qúa khứ.

Ảnh của Trần Khiêm: Một khía cạnh khác trong sự kiện “Giải Phóng Miền Nam”



Trong 35 năm qua, tuy đã có khá nhiều tài liệu, phim, ảnh liên quan đến giai đoạn cuối của cuộc chiến giữa hai miền Nam – Bắc được các bên có liên quan công bố, song người ta tin rằng, vì nhiều lý do, vẫn còn nhiều tài liệu, phim, ảnh khác về giai đoạn này chưa được bạch hóa.

Một trong những nguồn tư liệu thuộc dạng đó là bộ ảnh khoảng 200 tấm của ông Trần Khiêm, từng là cựu phóng viên của hãng truyền hình CBS và hãng ABC News của Hoa Kỳ tại Việt Nam, trước tháng 4 năm 1975.

Bộ ảnh vừa kể ghi lại những hình ảnh liên quan đến sự kiện Quân Đoàn 1 của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, cũng như dân chúng rút khỏi Huế và Đà Nẵng hồi cuối tháng 3 năm 1975, để rồi một tháng sau đó tới lượt Sài Gòn thất thủ.

Nhân dịp ông Trần Khiêm, 78 tuổi, quyết định trưng bày bộ ảnh này tại nhật báo Việt Herald, Nam California, Trân Văn đã phỏng vấn ông Trần Khiêm...

Hình ảnh về một sự thật khác

Đã có khá nhiều bài viết, tài liệu, thậm chí tiểu thuyết, tường thuật về cuộc triệt thoái của quân đội và dân chúng miền Nam khỏi Huế, rồi Đà Nẵng hồi hạ tuần tháng 3 năm 1975, song phim, ảnh ghi lại các diễn biến liên quan đến sự kiện này không nhiều. Cũng vì vậy, bộ ảnh của ông Trần Khiêm trở thành đặc biệt.

Bộ ảnh khắc họa chi tiết Huế ra sao khi cuộc triệt thoái diễn ra và Đà Nẵng hỗn loạn, ngổn ngang thế nào vào những ngày cuối cùng của tháng 3 năm 1975.

Một phần chạy về cửa Thuận An để tàu hải quân đón về Đà Nẵng, một phần thì đi thuyền, đi ghe vào Đà Nẵng, một phần nữa - phần chính là dân chúng rút về Đà Nẵng tị nạn qua con đường đèo Hải Vân.

Ông Trần Khiêm

Bộ ảnh này cho thấy một điểm đáng chú ý là trong cuộc triệt thoái đó, không chỉ có quân đội Việt Nam Cộng Hòa rút khỏi Huế và Đà Nẵng. Đi theo họ còn rất đông thường dân. Việc hàng chục ngàn người cả lính lẫn dân ngồi xe, đi bộ, gồng gánh tài sản, con cái, thậm chí dắt cả trâu bò rời bỏ nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả ông bà, cha mẹ, nói lên nhiều điều mà bút mực không thể diễn đạt thấu đáo.

Bộ ảnh còn minh họa các thảm cảnh xảy ra tại bãi biển Mỹ Khê, Đà Nẵng vào những ngày cuối cùng của tháng 3 năm 1975, vốn đã được nhiều bài viết, tài liệu, tiểu thuyết đề cập. Sau khi xem qua bộ ảnh này, chúng tôi đã đề nghị ông Trần Khiêm, tác giả bộ ảnh, dành cho thính giả của Đài Á Châu Tự Do ít phút:

Trân Văn: Ông đã thấy những gì vào thời điểm Quân Đoàn I phải bỏ Huế để rút vào Đà Nẵng?

Ông Trần Khiêm: Sự thật mà nói thì dân chúng và quân đội rất ngạc nhiên không hiểu tại sao.

Trước khi rút thì tôi có gặp Trung tướng Ngô Quang Trưởng một lần với ông Phó lãnh sự Mỹ ở Đà Nẵng. Trung tướng có nói rằng: "Chúng tôi không để mất Đà Nẵng vì chúng tôi có lệnh giữ từ đèo Hải Vân về phía Nam". Ông hỏi tôi là: "Sao, có đi không?". Tôi nói: "Nếu mà Trung tướng ở lại thì chắc tôi cũng phải ở lại"... nhưng mà không ngờ mất nhanh đến thế!

Khi Trung tướng về Đà Nẵng rồi thì đến ngày 20 dân chúng Huế bắt đầu tán loạn, mạnh người nào người đó đi. Tôi nghĩ do Thủy Quân Lục Chiến và Nhảy Dù rút ra khỏi Huế nên dân chúng hoảng hốt mà chạy theo. Một phần chạy về cửa Thuận An để tàu hải quân đón về Đà Nẵng, một phần thì đi thuyền, đi ghe vào Đà Nẵng, một phần nữa - phần chính là dân chúng rút về Đà Nẵng tị nạn qua con đường đèo Hải Vân.

Trân Văn: Ông nói dân chúng là tất cả dân chúng hay một phần dân chúng?

Ông Trần Khiêm: Tôi không xác nhận được. Những vùng ở thôn quê thì người ta không di tản nhưng mà thành phố Huế thì di tản 100%. Bằng chứng là tôi đã ghi nhận được bằng hình ảnh thành phố Huế bỏ trống.

Trân Văn: Thưa ông, ở thời điểm đó, phía bên kia đánh vào Huế chưa, hay cuộc rút lui bắt đầu do Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến rút ra khỏi Huế?

Ông Trần Khiêm: Lý do dân chúng hoảng hốt, dân chúng chạy vì Thủy Quân Lục Chiến với Nhảy Dù đã bỏ thành phố Huế mà rút đi trước.

Bóng ma trong quá khứ

Trân Văn: Trước đó, vào thời điểm đó và sau này, người ta vẫn nói rằng cuộc chiến do miền Bắc khởi xướng là cuộc chiến Giải Phóng Miền Nam, chống xâm lược Mỹ và chính quyền tay sai, thế thì tại sao dân chúng, vốn dĩ là đối tượng được giải phóng lại bỏ đi như thế?

Ông Trần Khiêm: Theo thiển ý của tôi, tôi nghĩ cái đó rất là phức tạp. Ngày đó có một phần dân chúng chờ đón Việt Cộng, một phần thì sẵn sàng chạy. Hai phe rõ ràng như vậy nhưng mà phe ở thành phố, phe mà người ta đi một cách mạnh mẽ là vì ảnh hưởng của Mậu Thân (1968).

Trân Văn: Điều gì đã xảy ra vào thời điểm Mậu Thân ở tại Huế?

Ông Trần Khiêm: Quân giải phóng đã giết nhiều người quá thành ra dân chúng sợ. Dân chúng sợ đến nỗi nghe nói chạy là chạy thôi, chẳng cần suy nghĩ nữa, tại vì những người còn sống sau Mậu Thân ở Huế thì sống một cách là sợ hãi, chết lúc nào không biết, giống như là đàn anh, đàn chị, đàn cha của họ đã bị chết đó nên họ sợ lắm.

Trân Văn: Số người chết năm Mậu Thân tại Huế khoảng bao nhiêu?

Ông Trần Khiêm: Theo người ta đồn miệng thì là 12.000 người nhưng mà theo tài liệu, báo chí thì vào khoảng 7.000 người.

Fact box
- Chiến dịch Mùa Xuân 1975 bắt đầu từ ngày 4 tháng 1 và kết thúc ngày 30 tháng 4 năm 1975.
- Chiến dịch giải phóng Huế-Đà Nẵng bắt đầu từ 21 tháng 3 đến 29 tháng 3.
- Có khoảng 587.000 thường dân Việt Nam chết trong cuộc chiến.

Trân Văn: Họ chết như thế nào?

Ông Trần Khiêm : Việt Cộng dẫn họ ra bãi cát và bắt họ tự đào hầm, lấy dao chặt đầu với lấy cuốc đánh vào đầu trước khi đạp xuống hố. Người nhà đi kiếm, đi ngang qua đó nghe dưới hầm rên và đất rung lên.

Trân Văn: Ông có mặt tại Huế vào năm 1968?

Ông Trần Khiêm: Tôi có mặt ở Huế vào sáng Mùng 2 Tết 1968, lúc đang đánh nhau.

Trân Văn: Đó là sau khi cuộc thảm sát đã diễn ra hay cuộc thảm sát đang diễn ra?

Ông Trần Khiêm: Sau khi cuộc thảm sát đã diễn ra rồi tôi mới tới.

Trân Văn: Thời điểm 1968 ông đến Huế vì lý do gì?

Ông Trần Khiêm: Vì là phóng viên được chỉ định đi.

Trân Văn: Như vậy cuộc thảm sát Tết Mậu Thân là chuyện có thật?

Ông Trần Khiêm: Một trăm phần trăm có thật. Khi đào xác lên tôi còn quay phim, chụp hình được nữa.

Trân Văn: Theo ông thì sự kiện dân chúng Huế bỏ xứ vào Nam là có nguyên nhân sâu xa từ những ấn tượng kinh hoàng mà họ đã từng chứng kiến, đã từng biết vào năm 1968?

Ông Trần Khiêm: Thưa ông đúng vậy, chắc chắn 100% lòng dân Huế là như vậy đó.

Trân Văn: Ông là người Huế?

Ông Trần Khiêm: Tôi là người Huế.

Thà chết chứ không muốn được “giải phóng”

Trân Văn: Thưa ông, bây giờ quay trở lại với sự kiện năm 1975, khi mà lực lượng Dù và Thủy Quân Lục Chiến rút khỏi Huế, người dân đi theo như thế nào? Ông đã thấy những gì?

Ông Trần Khiêm: Đa số dân đi theo Thủy Quân Lục Chiến, với Dù, với quân đội là mượn đường để đi theo lính. Sự thật thì họ cũng chẳng muốn đi theo lính vì đi theo lính có thể bị phục kích nhưng mà họ phải theo, coi như lính mở đường cho dân chúng đi.

Trân Văn: Trong những tấm ảnh ông chụp ở thời điểm đó, tôi thấy có khá nhiều phụ nữ, khá nhiều trẻ em bị thương và bị chết. Tại sao họ lại bị thương và bị chết?

Ông Trần Khiêm: Lúc đó khi dân chúng chạy lẫn lộn với lính. Sự thật là lính chạy thì dân chạy theo. Họ đi không định hướng hoặc phải đi bao nhiêu ngày hoặc phải đi như thế nào, đường mở rồi là đi thôi nhưng mà không ngờ là Việt Cộng chận lính.

Quân giải phóng đã giết nhiều người quá thành ra dân chúng sợ.

Ông Trần Khiêm

Trân Văn: Trên đường ông đi từ Huế vào Đà Nẵng cùng với lính và dân thì có khoảng bao nhiêu cuộc phục kích đã xảy ra?

Ông Trần Khiêm: Tôi chứng kiến được hai cuộc phục kích, một xảy ra ở Đá Bạc, Huế, trước khi lên đèo. Cuộc phục kích chớp nhoáng thôi nhưng cũng làm thiệt hại một số lính Thủy Quân Lục Chiến và một số dân. Rồi hai ngày hôm sau, khi mà đoàn quân bắt đầu xuống đèo Hải Vân thì...

Trân Văn: Đoàn quân hay đoàn người ?

Ông Trần Khiêm: Đoàn người! Cả lính và dân cùng đi, gần xuống đèo Liên Chiểu thì bị pháo kích và họ bắt đầu tấn công thêm một lần nữa. Lần này là lần lớn nhứt, thành ra các vị đã thấy trong hình, đàn bà, trẻ con và lính chết cũng khá nhiều.

Trân Văn: Như vậy là họ pháo vào đoàn người bằng đại bác và tấn công trực diện bằng bộ binh?

Ông Trần Khiêm: Họ không dùng đại bác nhưng mà họ dùng mortier (súng cối) 82mm, 81mm và B-40.

Trân Văn: Bắn trực diện vào đoàn người?

Ông Trần Khiêm: Bắn trực diện. Họ ở hai bên đèo, đoàn người đang đi ở giữa đường, thành ra khó chống đỡ lắm.

Trân Văn: Nạn nhân chủ yếu sau những cuộc phục kích đó là ai? Là lính hay là dân?

Ông Trần Khiêm: Là lính. Họ không nghĩ là giết dân. Họ muốn chặn dân ở lại thôi, họ không cho đi theo lính hoặc là không muốn bỏ trống thành phố, tại vì họ nghĩ rằng, nếu chiếm được đất mà không chiếm được người thì cũng vô ích thôi. Nên chi cả hai trận đánh đó mục đích là chận dân lại ở với họ thôi.

Trân Văn: Thế còn Đà Nẵng thì sao? Khi đoàn người rút về đến Đà Nẵng thì tình hình Đà Nẵng vào thời điểm đó như thế nào?

Ông Trần Khiêm: Khi mà lính vào Đà Nẵng thì thành phố rất là hỗn loạn, đông nghịt người. Người nào cũng biết là thế nào cũng mất Đà Nẵng rồi thành ra người nào cũng lo kiếm phương tiện.

Từ ngày 25 cho tới 28, sân bay Đà Nẵng là một sự lộn xộn không thể nói được. Một phần thì pháo kích, một phần thì dân chúng đổ xô vào sân bay, máy bay không đáp được. Một lần máy bay đáp được thì coi như máy bay bị ăn cướp, người ta tha hồ dắt nhau lên, đến nỗi có nhiều người kẹp vào chân máy bay để ra đi.

Còn thuyền thì như là thương thuyền Trường Thành, dân chúng tràn lên không ai có thể cản được, đến nỗi con thuyền nghiêng gần chìm, quan tàu phải nói, một là bỏ con thuyền, hai là quý vị muốn chạy thì phải bớt người xuống. Những người nào không lên được thì chịu thôi.

Trân Văn: Trong tình trạng hỗn loạn đó thì nạn nhân chủ yếu là đối tượng nào?

Ông Trần Khiêm: Lúc đó thì cả dân và cả lính giống nhau.

Trân Văn: Hồi nãy, trong phần đầu cuộc trò chuyện, ông có nói, sở dĩ dân chúng thành phố Huế bỏ đi vì họ bị ám ảnh bởi cuộc thảm sát đã từng xảy ra vào Tết Mậu Thân, năm 1968, Đà Nẵng thì chưa từng có cuộc thảm sát nào như thế. Vậy tại sao dân chúng Đà Nẵng cũng muốn bỏ đi để dẫn đến tình trạng là mọi người tranh giành nhau phương tiện, nhằm tìm cách thoát ra khỏi Đà Nẵng?

Ông Trần Khiêm: Miền Trung có sự liên hệ dây chuyền: Huế - Đà Nẵng - Quảng Trị. Ví dụ như năm 1972, Quảng Trị mất thì dân chúng Quảng Trị dồn vô Huế. Bây giờ Huế mất thì dân chúng Huế dồn vô Đà Nẵng. Đà Nẵng cũng nhiều rồi mà dồn thêm cả hai tỉnh miền Trung là cả Huế cả Quảng Trị thì là quá nhiều rồi, thành ra vì lẽ đó ...

Trân Văn: Nói chung, theo ông sở dĩ cuộc di tản trở thành hỗn loạn, sở dĩ có tình trạng người ta giành giật phương tiện để thoát ra khỏi Đà Nẵng là vì người ta sợ phải sống chung, sợ sự hiện diện của quân đội Bắc Việt?

Ông Trần Khiêm: Cái đó thì tôi không khẳng định, tôi không dám nói nhưng mà hầu hết là người ta sợ chuyện sẽ xảy ra lần thứ hai như Mậu Thân.

Một phần thì pháo kích, một phần thì dân chúng đổ xô vào sân bay, máy bay không đáp được. Một lần máy bay đáp được thì coi như máy bay bị ăn cướp, người ta tha hồ dắt nhau lên, đến nỗi có nhiều người kẹp vào chân máy bay để ra đi.

Ông Trần Khiêm

Trân Văn: Trong những ảnh ông chụp và là những tấm ảnh lần đầu được công bố, người ta thấy bãi biển Mỹ Khê ở Đà Nẵng rất hỗn loạn và sau đó thì hết sức ngổn ngang.

Điều gì là ấn tượng đậm nhất cho ông trong giai đoạn cuối tháng 3 năm 1975?

Ông Trần Khiêm: Sự kiện làm cho tôi khủng khiếp nhứt, không làm sao tôi quên được là từ ngày 28 cho đến ngày 29 tháng 3, tôi chứng kiến trẻ con và dân chúng rớt xuống sông nhiều quá, khi giành nhau để leo lên con thuyền. Họ rớt xuống sông trong đêm tối và nước chảy xiết quá, rồi trôi mất, người ta chỉ đứng trên tàu khóc lóc và la ó thôi chứ không làm gì được cả.

Vào lúc 2 giờ 30 chiều ngày 28, con tàu bắt đầu rời bến mang theo 12.000 người đi về Nam ...

Trân Văn: Tại sao theo đoàn người di tản từ Huế vào đến Đà Nẵng, tận mắt chứng kiến nhiều thảm cảnh trên con đường di tản nhưng ông lại không công bố những hình ảnh ông đã chụp, phải đợi cho đến ngày hôm nay ?

Ông Trần Khiêm: Thưa anh, đó là nỗi khổ tâm của tôi. Tôi mà "show" (trưng bày) lên thì coi như bôi nhục chính phủ... Vì vậy mà tôi nghiến răng, tôi giữ cho đến ngày hôm nay.

Đã 35 năm qua rồi, nó nguội lạnh rồi, tôi khơi lại một tí để cho con cháu nó biết là mình khổ như vậy, mới có sự ra đi như thế này. Mình phải trả giá thật đắt. Cha ông chúngta phải trả giá quá đắt.

Theo dự tính, cuộc triển lãm bộ ảnh ghi lại những hình ảnh liên quan đến sự kiện quân đội Việt Nam Cộng Hòa, cũng như dân chúng rút khỏi Huế và Đà Nẵng hồi cuối tháng 3 năm 1975 của ông Trần Khiêm sẽ diễn ra trong ba ngày, từ 30 tháng 4 đến 2 tháng 5, tại hội trường nhật báo Việt Herald, Nam California, Hoa Kỳ.

Quý vị có thể xem qua một số hình ảnh trong bộ ảnh này trên trang web của Ban Việt ngữ Đài Á châu Tự do.

20 tháng 4 năm 1975 - Cộng Quân kiểm soát Phan Thiết, vượt qua phòng tuyến Xuân Lộc, chuẩn bị tấn công Sài Gòn

 


1975 – Ngày 20-4: Bắc Việt kiểm soát Phan Thiết, vượt qua phòng tuyến Xuân Lộc, chuẩn bị tấn công Sài Gòn

***
Một đất nước chỉ trưởng thành khi lịch sử của nó được ghi nhớ một cách trung thực và trọn vẹn nhất có thể. Hãy sống lại tháng Tư năm 1975 cùng Luật Khoa tạp chí qua các bài báo hàng ngày ở miền Nam, miền Bắc và báo chí quốc tế.
***

Trang nhất của The Tampa Times đăng tít lớn “Tỉnh lỵ thứ 19 của VNCH thất thủ”. [1]

Dẫn nguồn UPI: “Nguồn tin quân sự cho biết quân đội Bắc Việt do xe tăng dẫn đầu hôm nay đã kiểm soát thành phố ven biển Phan Thiết, tỉnh lỵ thứ 19 thất thủ vào tay Cộng sản và là một cứ điểm phòng thủ quan trọng của chính phủ. […]

Liên lạc điện đài với Phan Thiết đã bị mất vào khoảng 10 giờ tối hôm qua. Lực lượng VNCH trong khu vực đã được sơ tán lên các tàu chờ ngoài khơi ở Biển Đông. Quân Cộng sản di chuyển theo sau xe tăng do Nga chế tạo đã tràn vào Phan Thiết. […]

Với việc từ bỏ Phan Thiết, chính phủ đã bỏ mặc tỉnh Bình Thuận cho Cộng sản – những người hiện đang kiểm soát hơn hai phần ba lãnh thổ VNCH.”

Bài viết cũng tường thuật lời của Đại tá Võ Đông Giang, phát ngôn viên của Việt Cộng ở Sài Gòn rằng “các lực lượng Cộng sản đã được lệnh vào hôm 4-4 để chuẩn bị một cuộc tấn công vào thành phố”, tuy ông “rất tiếc không thể biết hay nói trước được ngày diễn ra khởi nghĩa hay chiến đấu ở Sài Gòn”.

21 tháng 4 năm 1975 - Lực Lượng Cộng Quân gấp đôi Cộng hòa ở Sài Gòn; VNCH bỏ đảo Song Tử Tây ở Trường Sa

1975 – Ngày 21-4: Lực lượng Cộng quân gấp đôi Cộng hòa ở Sài Gòn; VNCH bỏ đảo Song Tử Tây ở Trường Sa

***
Một đất nước chỉ trưởng thành khi lịch sử của nó được ghi nhớ một cách trung thực và trọn vẹn nhất có thể. Hãy sống lại tháng Tư năm 1975 cùng Luật Khoa tạp chí qua các bài báo hàng ngày ở miền Nam, miền Bắc và báo chí quốc tế.
***

Tờ The Anniston Star đăng trên trang sáu tin “Cộng quân củng cố lực lượng quanh Sài Gòn; Người Mỹ chạy trốn”. [1]

Dẫn nguồn AP: “Lực lượng Cộng sản được cho là đã củng cố các vị trí quanh Sài Gòn vào thứ Bảy, trong khi người Mỹ tiếp tục rời khỏi thủ đô đang trong tình trạng hoảng loạn của VNCH và ba tàu sân bay của Mỹ đã tiến vào vùng biển Tây Thái Bình Dương. […]

Bộ Tư lệnh Sài Gòn báo cáo chỉ có các cuộc giao tranh lẻ tẻ tại tỉnh Long An, cách Sài Gòn 25 dặm về phía Tây Nam thuộc đồng bằng sông Cửu Long, nhưng có dấu hiệu cho thấy Việt Cộng và Bắc Việt đang di chuyển đến các vị trí chiến lược của tỉnh này. Long An là cửa ngõ miền Tây dẫn tới Sài Gòn.

Bộ Tư lệnh Sài Gòn cũng cho biết hơn 20 lượt đạn pháo và rocket đã được bắn vào căn cứ không quân Biên Hòa, cách Sài Gòn 15 dặm về phía Bắc, một cứ điểm khác có thể dùng để tiến vào thủ đô.

Các cuộc giao tranh nhỏ cũng diễn ra tại Xuân Lộc, cách Sài Gòn 40 dặm về phía Đông.”

 

22.4.1975 Xuân Lộc thất thủ; Tổng Thống Thiệu Từ Chức

1975 – Ngày 22-4: Xuân Lộc thất thủ; Tổng thống Thiệu từ chức

***
Một đất nước chỉ trưởng thành khi lịch sử của nó được ghi nhớ một cách trung thực và trọn vẹn nhất có thể. Hãy sống lại tháng Tư năm 1975 cùng Luật Khoa tạp chí qua các bài báo hàng ngày ở miền Nam, miền Bắc và báo chí quốc tế.
***

Tin từ chức của Tổng thống Thiệu xuất hiện trên trang nhất nhiều tờ báo của Mỹ. Tờ The Kansas City Star đăng tít lớn trên trang nhất: “Thiệu từ chức, đổ lỗi thất bại cho Hoa Kỳ”.

Dẫn nguồn AP: “Với đôi mắt đẫm lệ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu của VNCH đã tuyên bố từ chức trên một buổi phát sóng truyền hình toàn quốc hôm nay.

Ông nói Sài Gòn không thể giành chiến thắng quân sự và đổ lỗi cho Hoa Kỳ về thất bại này. Thiệu nói rằng Ngoại trưởng Mỹ Henry A. Kissinger đã không nhận ra rằng Hiệp định Paris năm 1973 ‘dẫn nhân dân miền Nam Việt Nam đến cái chết’.

Thiệu chỉ định Phó Tổng thống Trần Văn Hương, 71 tuổi, kế nhiệm chức tổng thống. Tuy nhiên, có tin đồn rằng Hương, với sức khỏe yếu và gần như mù lòa, sẽ từ chức cùng toàn bộ nội các và Trần Văn Lắm, 61 tuổi, chủ tịch Thượng viện, sẽ trở thành tổng thống.

TT Thiệu hy vọng việc từ chức sẽ giúp đất nước mình.
 

Dự Án 1975 - Một Năm Nhìn Lại - Luật Khoa Tạp Chí

Tổng kết và khép lại Dự án 1975: Một năm nhìn lại

Quý độc giả cùng những hảo hữu gần xa thân mến,

Năm 2025 chỉ còn những giờ phút cuối. Cảm xúc bồi hồi hiện lên sau những cái ngoảnh đầu hồi cố vào mỗi độ cuối năm có lẽ là điều mà nhiều người đều có, đều không ít lần trải nghiệm.

Với những người thực hiện Dự án 1975, sự khép lại của năm 2025 càng có thêm đôi phần đặc biệt. Bởi đó còn là dấu mốc khép lại một hành trình nhiều ý nghĩa, hoặc cũng có thể nói là một chặng đường đầy thử thách, cam go. Lẽ thường, đường đi càng chông gai trắc trở, những gì chờ đợi nơi cuối chặng càng là những phần tưởng thưởng ngọt ngào.

Với chúng tôi, chặng đường vừa qua chính là một hành trình như thế. Như người ta vẫn nói, “đường dài mới biết ngựa hay”. Dẫu thời gian một năm không tính là dài, và dẫu chúng tôi cũng chẳng muốn tỏ ra khiêm tốn, thế nhưng việc đi cho tròn một năm của một nhiệm vụ luôn buộc đội ngũ thực hiện phải tự thách thức giới hạn năng lực của bản thân, chỉ e nếu nói không khó khăn, chính là tự dối lòng.

Khởi từ mong muốn tìm hiểu rõ hơn về hiện thực lịch sử nước nhà trong và sau Chiến tranh Việt Nam, tức vùng lịch sử vẫn luôn bị nền giáo dục xã hội chủ nghĩa cải biên, khỏa lấp, một nhóm người trẻ của Luật Khoa tạp chí đã cùng nhau khởi xướng nên Dự án 1975.

Đúng như tên gọi, Dự án của chúng tôi tập trung vào những trang sử về năm 1975, một năm gắn với nhiều biến cố trọng đại của lịch sử dân tộc: cuộc nội chiến 20 năm dần đi đến hồi kết và rồi chính thức khép lại, nền hòa bình, thống nhất chớm nở trên mảnh đất tuy bom, đạn đã ngừng rơi, nhưng đau thương chưa hề dứt. Năm 1975, có thể gọi là năm bản lề cho những khúc quanh và thăng trầm lịch sử Việt Nam trong một phần tư còn lại của thế kỷ 20.

Chính những nỗi đau chưa dứt, những quang cảnh quê hương điêu tàn sau bao cơn binh lửa, và chính hiện thực về một “vỹ tuyến 17” vẫn chưa được xóa bỏ trong tâm khảm của biết bao người, đã khiến non sông dù thống nhất, nhưng lòng người vẫn phân ly. Sự phân ly ấy đã níu giữ tâm lý của cả một dân tộc suốt nhiều chục năm sau đó vẫn kiên trì ở lại với chiến trường, nơi ý chí sát phạt và thành lũy ý thức hệ địch - ta, bạn - thù chưa hề bị xô đổ.

Năm 2025, sự kiện 30/4 đã bước sang lần kỷ niệm thứ 50. Điều này cũng có nghĩa chiến tranh đã lùi xa và hòa bình đã tái lập được tròn nửa thế kỷ. Dù vậy, những phát ngôn, hành động mang sắc thái chia rẽ, phân biệt, chối bỏ và phủ nhận nhau vẫn diễn ra liên tục từ cả hai bên chiến tuyến. Tất cả những điều ấy, theo chúng tôi, phần lớn đến từ sự khiếm khuyết của một khoa lịch sử trung thực, đa chiều, đủ tính khách quan. Bởi lẽ, khi câu chuyện chỉ được kể từ một phía, sự thật bên trong thường khó mà trọn vẹn, khó tránh mang tính chất của một màn độc diễn, mà đặc biệt là ở phía có đủ thẩm quyền viết lại lịch sử theo ý mình.

Chính hiện thực và tâm tư đó thôi thúc chúng tôi theo đuổi dự án này: làm “sống lại năm 1975” thông qua việc cung cấp một kho tư liệu bao quát, đa chiều và sâu sát về từng diễn biến của lịch sử Việt Nam trong năm “bản lề” ấy. Ngõ hầu, mong rằng kho tư liệu mà chúng tôi sưu tầm, giới thiệu sẽ bổ khuyết cho những vùng xám, lỗ hổng của sử sách chính thống từ cả hai bờ của chiến hào.

Một năm không quá dài với đời người, nhưng đủ cam go với một đội ngũ trẻ để vừa phải tìm kiếm, phải đọc, học, rồi phải chọn lọc, phải dịch, phải viết, để trình làng cho công chúng kho tàng sử liệu của năm 1975, sao cho xác đáng nhất có thể.

Và rồi, đúng như lời Lão Tử nói, “thiên lý chi hành, thủy vu túc hạ”, đường dẫu xa nhưng khi ta cứ đi, ắt một ngày sẽ đến. Chúng tôi đã cứ đi, và giờ đây Dự án đã có cho mình một “gia tài” kha khá để có thể tự hào khi nhìn lại trong dịp cuối năm này.

Tính đến nay, website của Dự án 1975 đã đăng tải tổng cộng 111 bài viết, phân thành 6 chuyên mục khác nhau. Cụ thể số bài của mỗi chuyên mục:

- Điểm tin tuần (Xuất bản 1 bài/tuần): 52 bài
- Điểm tin ngày (Xuất bản 1 bài/ngày, đăng tải trong tháng 4/2025): 30 bài
- Chuyện 1975 - Người xưa kể lại (Xuất bản 1 bài/tuần): 17 bài
- Xã luận (1 bài/tuần): 10 bài
- Bạn có biết?: 1 bài
- Hồi đó, bây giờ: 1 bài

Bên cạnh đó, trong năm qua chúng tôi còn cho sản xuất và phát hành 25 video qua kênh YouTube Luật Khoa tạp chí. Nội dung các video này trình bày những sử kiện, sử liệu về năm 1975 nói riêng, lẫn về chính thể và con người Việt Nam Cộng hòa trong và sau chiến tranh nói chung.

Ngoài ra, vào ngày 23/10/2025, Dự án đã cho xuất bản một số báo đặc biệt nhân dịp kỷ niệm ngày Quốc khánh Việt Nam Cộng hòa. Số báo có nhan đề “70 năm Việt Nam Cộng hòa: Chân dung & Di sản”, nhắm tới khắc họa khái lược bức chân dung đa chiều của một nhà nước Việt Nam Cộng hòa từng tồn tại và những di sản đa dạng mà nhà nước ấy đã lưu lại, vẫn còn gây tác động đến đời sống của người Việt ngày nay.

Các nội dung của Dự án 1975 tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn đưa tin của báo chí độc lập, chú trọng tính khách quan, đa chiều, thông tin có kiểm chứng và không lồng ghép quan điểm. Trong các bài điểm tin, điểm báo, chúng tôi dẫn nguồn tin từ nhiều phía, bao gồm các ghi chép của cả miền Bắc lẫn miền Nam Việt Nam, cả trong nước lẫn quốc tế.

Quý vị thân mến,

Để có được thành quả lao động phong phú này, bên cạnh nỗ lực của các thành viên trong nhóm thực hiện dự án, chúng tôi còn có sự giúp sức của bốn bạn tình nguyện viên. Các bạn đã bất chấp những rủi ro an ninh của bản thân lẫn tình cảnh tòa soạn không thể hỗ trợ chi phí, để rồi quyết định đồng hành, hỗ trợ dự án từ tháng 8/2025 cho đến hôm nay. Bốn con người, trong bốn tháng miệt mài vẫn giữ một tinh thần làm việc lăn xả và tận tâm. Luật Khoa tạp chí chân thành tri ân đóng góp âm thầm nhưng đầy giá trị này của các bạn.

Ngoài ra, dự án của chúng tôi cũng không thể nào thực hiện được nếu thiếu đi những nguồn tư liệu, tài liệu quý giá, đặc biệt là những tờ báo cũ của miền Nam xưa, tưởng đã phải chịu chung số phận với chế độ mà nó tồn tại. Chúng tôi thành thật biết ơn nỗ lực sưu tầm, giới thiệu các tư liệu và sự ủng hộ của bác Huỳnh Chiếu Đẳng, chủ trang Quán Ven Đường, nơi lưu trữ phiên bản ảnh ấn nhiều sách, báo giá trị của miền Nam một thời. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện, chúng tôi còn tham khảo nguồn tư liệu báo chí từ chuyên trang Newspaper.com và Thư viện Quốc gia Việt Nam. Xin chân thành cảm ơn đội ngũ sáng lập và chưởng quản của hai cơ quan này.

Bên cạnh đó, việc Dự án 1975 có thể duy trì trọn vẹn suốt một năm qua là nhờ ơn rất lớn của quý nhà hảo tâm đã dành sự hậu ái, quyên góp cho Quỹ Nghiên cứu Việt Nam Cộng hòa, nguồn tài lực chính của dự án chúng tôi. Nhân đây, tòa soạn Luật Khoa xin bày tỏ lòng biết ơn đối với sự đóng góp, yểm trợ của quý vị. Tính đến nay, Quỹ đã nhận được tổng cộng $10.385, giúp chúng tôi có đủ ngân sách để mở tải xuống miễn phí số báo đặc biệt cho toàn thể cộng đồng.

Thưa quý độc giả,

Dự án 1975, hôm nay đã đi đến chặng kết theo sự xác định ban đầu của những người thực hiện: đã phục dựng diễn biến từng ngày và từng tuần của năm 1975. Dự án giờ đây đã có thể tự hào rằng mình hoàn thành sứ mệnh đề ra, thậm chí tạo ra được lượng nội dung vượt mức kỳ vọng của ngày khởi sự.

Khép lại cuộc hành trình ấy, tức là sẽ không còn những ngày tháng miệt mài đọc, chép, soạn thảo, dịch thuật, biên tập, thiết kế, xuất bản… Hàng loạt những thao tác nhọc nhằn và ai nấy cứ phải nơm nớp lo âu, sợ bất cẩn mắc phải từng sai lầm nhỏ. Nhưng khép lại chuỗi ngày ấy rồi, cả một khoảng trống của ký ức, của thói quen, của những tình cảm và khát vọng lại hiện ra và khiến chúng tôi khôn nguôi hoài niệm.

Dự án 1975 qua một năm hoạt động không chỉ có cho mình một lượng độc giả sẵn lòng đón đọc, dõi theo, mà còn có được một nhóm người sẵn sàng xem công việc này là một phần đời sống, là tập quán thường nhật. Chúng tôi thật sự không muốn nói từ “dừng lại”.

Và vì thế, chúng tôi chọn nói từ ấy theo một cách khác: “dừng lại, là để bước tiếp”. Dự án 1975 đã khẳng định chỗ đứng đủ vững vàng và đủ quan trọng, chí ít là trong lòng chúng tôi, để có thể tiếp tục tồn tại trong một thân phận, một khuôn khổ rộng lớn hơn: là một dự án dài hạn gắn với mảng nội dung về Việt Nam Cộng hòa mà Luật Khoa tạp chí đã, đang và sẽ tiếp tục theo đuổi.

Trong “khuôn khổ mới”, website của Dự án vẫn sẽ tiếp tục duy trì hoạt động, nhưng không phải với tuyến bài đã khai thác trong năm qua, mà mở rộng sang những chủ đề mới. Chúng tôi còn khởi tạo một fanpage trên nền tảng Facebook, làm nơi giới thiệu, chia sẻ các nội dung mà Dự án đã sản xuất. Kênh YouTube Luật Khoa tạp chí vẫn sẽ tiếp tục theo đuổi tuyến nội dung về Việt Nam Cộng hòa - chủ đề mà Dự án 1975 trong năm tới sẽ bao trọn.

Quý độc giả thân mến,

Chúng tôi tin rằng sự khép lại hành trình một năm qua của Dự án 1975 sẽ là điểm dừng cần thiết để đội ngũ thực hiện kịp nhìn lại một chặng đường có cả những thành tựu lẫn thiếu sót, cả những gian truân lẫn phúc lành. Chúng tôi tin, quãng đường tiếp theo đây mà chúng tôi cất bước, sẽ càng thử thách hơn, nhưng cũng vững vàng hơn.

Mong rằng, những bước chân kế tiếp trong năm mới của những người thực hiện chúng tôi vẫn sẽ tiếp tục có được sự dõi theo, tiếp sức từ quý vị.

Kính chúc quý vị một năm mới hạnh phúc, bình an.

Đội ngũ thực hiện Dự án 1975

 

Saturday, April 3, 2021

Hình Ảnh Chiến Tranh Việt Nam Ngày 30-4-1975 The image of Viet Nam War on April 30, 1975

CHUYỆN DI TẢN

Tôi không có đi di tản hồi những ngày cuối tháng Tư 1975 nên không biết cảnh di tản ở Sài Gòn ra làm sao.
Mãi đến sau nầy, khi đã định cư ở Pháp, nhờ xem truyền hình mới biết!
Sau đây là vài cảnh đã làm tôi xúc động, xin kể lại để cùng chia xẻ…

Chuyện 1: Cuộc di tản kinh hoàng
Ở bến tàu, thiên hạ bồng bế nhau, tay xách nách mang, kêu réo nhau ầm ĩ, hớt hơ hớt hải chạy về phía chiếc cầu thang dẫn lên bong một chiếc tàu cao nghều nghệu.
Cầu thang đầy người, xô đẩy chen lấn nhau, kêu gọi nhau, gây gổ nhau… ồn ào.

Trên bong tàu cũng đầy người lố nhố, giành nhau chồm lên be tàu để gọi người nhà còn kẹt dưới bến, miệng la tay quơ ra dấu chỉ trỏ… cũng ồn ào như dòng người trên cầu thang !
Giữa cầu thang, một bà già. Máy quay phim zoom ngay bà nên nhìn thấy rõ: Bà mặc quần đen áo túi trắng đầu cột khăn rằn, không mang bao bị gì hết, bà đang bò nặng nhọc lên từng nấc thang.
Bà không dáo dác nhìn trước ngó sau hay có cử chi tìm kiếm ai, có nghĩa là bà già đó đi một mình.
Phía sau bà thiên hạ dồn lên, bị cản trở nên la ó! Thấy vậy, một thanh niên tự động lòn lưng dưới người bà già cõng bà lên, xóc vài cái cho thăng bằng rồi trèo tiếp.
Chuyện chỉ có vậy, nhưng sao hình ảnh đó cứ đeo theo tôi từ bao nhiêu năm, để tôi cứ phải thắc mắc: Bà già đó sợ gì mà phải đi di tản?
Con cháu bà đâu mà để bà đi một mình Rồi cuộc đời của bà trong chuỗi ngày còn lại trên xứ định cư ra sao?
Còn cậu thanh niên đã làm môt cử chỉ đẹp – quá đẹp – bây giờ ở đâu?… Tôi muốn gởi đến người đó lời cám ơn chân thành của tôi, bởi vì anh ta đã cho tôi thấy cái tình người trên quê hương tôi nó vẫn là như vậy đó, cho dù ở trong một hoàn cảnh xô bồ hỗn loạn như những ngày cuối cùng của tháng Tư 1975…

Chuyện 2: Những bàn tay nhân ái
Cũng trên chiếc cầu thang dẫn lên tàu, một người đàn ông tay ôm bao đồ to trước ngực, cõng một bà già tóc bạc phếu lất phất bay theo từng cơn gió sông.
Bà già ốm nhom, mặc quần đen áo bà ba màu cốt trầu, tay trái ôm cổ người đàn ông, tay mặt cầm cái nón lá.
nép má trái lên vai người đàn ông, mặt quay ra ngoài về phía máy quay phim. Nhờ máy zoom vào bà nên nhìn rõ nét mặt rất bình thản của bà, trái ngược hẳn với sự thất thanh sợ hãi ở chung quanh!
Lên gần đến bong tàu, bỗng bà già vuột tay làm rơi cái nón lá. Bà chồm người ra, hốt hoảng nhìn theo cái nón đang lộn qua chao lại trước khi mất hút về phía dưới. Rồi bà bật khóc thảm thiết…
Bà già đó chắc đã quyết định bỏ hết để ra đi, yên chí ra đi, vì bà mang theo một vật mà bà xem là quý giá nhứt, bởi nó quá gần gũi với cuộc đời của bà: Cái nón lá ! Đến khi mất nó, có lẽ bà mới cảm nhận được rằng bà thật sự mất tất cả.
Cái nón lá đã chứa đựng cả bầu trời quê hương của bà, hỏi sao bà không xót xa đau khổ? Nghĩ như vậy nên tôi thấy thương bà già đó vô cùng.
Tôi hy vọng, về sau trên xứ sở tạm dung, bà mua được một cái nón lá để mỗi lần đội lên bà sống lại với vài ba kỷ niệm nào đó, ở một góc trời nào đó của quê hương…

Chuyện 3: Quê hương xa rồi
Cũng trên bến tàu nầy. Trong luồng người đi như chạy, một người đàn bà còn trẻ mang hai cái xắc trên vai, tay bồng một đứa nhỏ. Chắc đuối sức nên cô ta quỵ xuống. Thiên hạ quay đầu nhìn nhưng vẫn hối hả đi qua, còn tránh xa cô ta như tránh một chướng ngại vật nguy hiểm !
Trong sự ồn ào hỗn tạp đó, bỗng nghe tiếng được tiếng mất của người đàn bà vừa khóc la vừa làm cử chỉ cầu cứu. Đứa nhỏ trong tay cô ta ốm nhom, đầu chờ vờ mắt sâu hõm, đang lả người về một bên, tay chân xụi lơ.
Người mẹ – chắc là người mẹ, bởi vì chỉ có người mẹ mới ôm đứa con quặt quẹo xấu xí như vậy để cùng đi di tản, và chỉ có người mẹ mới bất chấp cái nhìn bàng quan của thiên hạ mà khóc than thống thiết như vậy – người mẹ đó quýnh quáng ngước nhìn lên luồng người, tiếp tục van lạy cầu khẩn.
Bỗng, có hai thanh niên mang ba lô đi tới, nhìn thấy. Họ dừng lại, khom xuống hỏi.
Rồi họ ngồi thụp xuống, một anh rờ đầu rờ tay vạch mắt đứa nhỏ, họ nói gì với nhau rồi nói gì với người đàn bà. Thấy cô ta trao đứa bé cho một anh thanh niên. Anh nầy bồng đứa nhỏ úp vào ngực mình rồi vén áo đưa lưng đứa nhỏ cho anh kia xem. Thằng nhỏ ốm đến nỗi cái xương sống lồi lên một đường dài…
Anh thứ hai đã lấy trong túi ra chai dầu từ lúc nào, bắt đầu thoa dầu rồi cạo gió bằng miếng thẻ bài của quân đội.
Thiên hạ vẫn rần rần hối hả đi qua. Hai thanh niên nhìn về hướng cái cầu thang, có vẻ hốt hoảng. Họ quay qua người đàn bà, nói gì đó rồi đứng lên, bồng đứa nhỏ, vừa chạy về phía cầu thang vừa cạo gió!
Người mẹ cố sức đứng lên, xiêu xiêu muốn quỵ xuống, vừa khóc vừa đưa tay vẫy về hướng đứa con.
Một anh lính Mỹ chợt đi qua, dừng lại nhìn, rồi như hiểu ra, vội vã chạy lại đỡ người mẹ, bồng xóc lên đi nhanh nhanh theo hai chàng thanh niên, cây súng anh mang chéo trên lưng lắc la lắc lư theo từng nhịp bước….
Viết lại chuyện nầy, mặc dù đã hơn ba mươi năm, nhưng tôi vẫn cầu nguyện cho mẹ con thằng nhỏ được tai qua nạn khỏi, cầu nguyện cho hai anh thanh niên có một cuộc sống an vui tương xứng với nghĩa cử cao đẹp mà hai anh đã làm.
Và dĩ nhiên, bây giờ, tôi nhìn mấy anh lính Mỹ với cái nhìn có thiện cảm!

Chuyện 4:Những cuộc chia tay xé lòng
Cũng trên bến tàu. Cầu thang đã được kéo lên. Trên tàu đầy người, ồn ào. Dưới bến vẫn còn đầy người và cũng ồn ào.
Ở dưới nói vói lên, ở trên nói vọng xuống, và vì thấy tàu sắp rời bến nên càng quýnh quáng tranh nhau vừa ra dấu vừa la lớn, mạnh ai nấy la nên không nghe được gì rõ rệt hết !
Máy quay phim zoom vào một người đàn ông đứng tuổi đang hướng lên trên ra dấu nói gì đó.
Bên cạnh ông là một thằng nhỏ cỡ chín mười tuổi, nép vào chân của ông, mặt mày ngơ ngác.
Một lúc sau, người đàn ông chắp tay hướng lên trên xá xá nhiều lần như van lạy người trên tàu, gương mặt sạm nắng của ông ta có vẻ rất thành khẩn.
Bỗng trên tàu thòng xuống một sợi thừng cỡ nửa cườm tay, đầu dây đong đưa. Mấy người bên dưới tranh nhau chụp. Người đàn ông nắm được, mỉm cười sung sướng, vội vã cột ngang eo ếch thằng nhỏ. Xong, ông đưa tay ra dấu cho bên trên.
Thằng nhỏ được từ từ kéo lên, tòn ten dọc theo hông tàu. Nó không la không khóc, hai tay nắm chặt sợi dây, ráng nghiêng người qua một bên để cúi đầu nhìn xuống. Người đàn ông ngước nhìn theo, đưa tay ra dấu như muốn nói: «Đi, đi ! Đi, đi!». Rồi, mặt ông bỗng nhăn nhúm lại, ông úp mặt vào hai tay khóc ngất!
Bấy giờ, tôi đoán ông ta là cha của thằng nhỏ đang tòn ten trên kia… Không có tiếng còi tàu hụ buồn thê thiết khi lìa bến, nhưng sao tôi cũng nghe ứa nước mắt!
Không biết thằng nhỏ đó – bây giờ cũng đã trên bốn mươi tuổi — ở đâu ? Cha con nó có gặp lại nhau không ? Nếu nó còn mạnh giỏi, tôi xin Ơn Trên xui khiến cho nó đọc được mấy dòng nầy…

Tiểu Tử

 Hình Ảnh Chiến Tranh Việt Nam Ngày 30-4-1975
The image of Viet Nam War on April 30, 1975

bamuoi75

bamuoi75
Ngày 21 - 4 - 1975, dân chúng Long Khánh chạy tránh cọng sản
On April 21, 1975, Long Khánh people fled avoiding communist

bamuoi75

bamuoi75

bamuoi75

bamuoi75

bamuoi75

bamuoi75
Ngày 21 - 4 - 1975, cộng sản vô tới Long Khánh
On April 21, 1975, Communist arrived Long Khánh
bamuoi75
On April 21, 1975 Long Khánh felt
Everywhere - People run to avoid enemy communist.
A transport ship Vishipco carried number of refugees from central Vietnam when communist overflow in there.

bamuoi75
Một chiếc thuyền tị nạn ở miền trung
A refugee boat in central
bamuoi75
People fled from the enermies with only a pair of sandal or bare feet, some bags and a radio
bamuoi75
Một gia đình dắt dìu nhau chạy giặc từ miền trung tránh đợt tấn cộng của cộng sản
A family helped each other fled from central to avoid the attack of communist

bamuoi75
Gia đình và trẻ em chạy giặc từ miền trung vào nam trong ngày cuối tháng 4 năm 1975
Families and children run from the Central to the South in the last day of April 1975
bamuoi75
Hai em bé lạc loài trong dòng người di tản
Two strayed little girls in line evacuees
bamuoi75
Với chút hành trang còn lại người cha cõng đứa con chạy trốn cộng sản ở Trảng Bom ngày 23 - 4 -1975
With left over belonging the father carried his child fled communist in Trảng Bom on April 23, 1975,

bamuoi75
Khắp nơi - Dân chạy tránh giặc cọng sản
Vũng Tàu Ngày 9 tháng 4 năm 1975
Everywhere - People fled communist
Vũng Tàu on April 9, 1975

bamuoi75
Dân chúng chen chúc tìm lối thoát tại các bến tàu
People crowed to escape to the piers

bamuoi75

bamuoi75

bamuoi75
Ngày 21 – 4 - 1975, người dân Sài Gòn lũ lượt kéo nhau chạy ra Vũng Tàu tị nạn
On April 21, 1975, flock of people in Sài Gòn went out Vũng Tàu to refugee

bamuoi75

bamuoi75

bamuoi75

bamuoi75
Vòng đai thành phố Sài Gòn những ngày cuối tháng 4 năm 1975 đã bị vây chặt bởi nhiều sư đoàn của cọng sản
Tại Sài Gòn
Ngày 24 - 4 - 1975. cọng sản đã ném bom vào Sài Gòn
Around the Sài Gòn City ring at the last day of April 1975 had been sealed off by man division of communist
At Sài Gòn
On April 24, 1975. The conist bombed into Sài Gòn

bamuoi75
Lúc 3 giờ 30 Ngày 27 tháng 4 năm 1975, cộng sản pháo kích vào thành phố Sài Gòn
At 3:30pm April 27, 1975, communist fired rockets into Sài Gòn City

bamuoi75

bamuoi75

bamuoi75

bamuoi75
Ngày 28 - 4 - 1975, cộng sản tiếp tục pháo kích vào Sài Gòn
On April 28, 1975, communist continued firing rockets into Sài Gòn

bamuoi75

bamuoi75

bamuoi75
Ngày 28 - 4 – 1975, Xác T-54 trên đường Trương Minh Giảng, gần Lăng Cha Cả
On April 18, 1975, the damaged T-54 tanks on the Trương Minh Giảng street, near Lăng Cha Cả

bamuoi75

bamuoi75

bamuoi75
Ngày 29 tháng 4 năm 1975, một chiếc trực thăng đáp trên sân thượng nhà 4 tầng của người dân trên đường Truơng Minh Ký
On April 29, 1975, a helicopter landed on the fourth floor terrace of a people on the street Truơng Minh Ký

bamuoi75
Tại Bến Sông Bạch Đằng
Người dân Sài Gòn tìm đường thoát trên bến phà Thủ Thiêm trên bến sông Bạch Đằng

From Bạch Đằng River
People in Sài Gòn found the way to escape on Thủ Thiêm ferry on the Bạch Đằng River. (Hello Christine, at this port fourty years ago your mom along with her brother had fled communist to get out of Saigon Capital with her cousin family)

bamuoi75
Ngày 28 - 4 - 1975, người dân leo qua hàng rào bến cảng để trốn thoát khỏi Sài gòn
On April 28, 1975, people in Saigon climb up the fence of the port to get out of Saigon.

bamuoi75
Những cửa ngõ duy nhất có thể thoát ra khỏi Sài Gòn như Toà Đại Sứ Mỹ, khu DAO ở gần Air Vietnam và bến Bạch Đằng, thì lúc nào cũng đông nghẹt người chen chúc chờ đợi một cơ hội cuối cùng. Đa số là thành phần trong chính quyền cao cấp hoặc những người có liên hệ với Mỹ trước đây

There are some places people can left Saigon such as the United States embassy, DOD near to Air Vietnam office and Bạch Đằng Port, at these places, at all time there are a lot people who were waiting for a last chance to get out of capital. Most people in this crowd who are hight officer working for South Vietnam government or who work for American office.

bamuoi75

bamuoi75
Và những người sài Gòn đang liều mạng trèo lên các xà lan tại bến cảng Sài Gòn họ cố gắng trốn thoát khỏi cộng sản
And people who live in Saigon Capital didn't mind about their own lives. They climb the barges in Saigon harbor trying to escape from communist

bamuoi75
Ngày 29 - 4 - 1975 (April 29, 1975)

bamuoi75
Một bé trai đầu đội mũ lính, trên lưng cõng một đứa bé lạc loài trong đoàn người di tản
A young boy wears a soldier hat, carrying his young brother on his back stray in convoy.

bamuoi75
Sài Gòn vào những ngày cuối tháng Tư năm 1975 như một cái chảo đặt trên lửa đang nóng dần lên và dân chúng như đàn kiến loi ngoi trong đó không lối thoát
Sài Gòn vào những ngày cuối tháng Tư năm 1975 như một cái chảo đặt trên lửa đang nóng dần lên và dân chúng như đàn kiến loi ngoi trong đó không lối thoát
Last days of April 1975, Saigon likes a hot pan on the stove and people likes a crowed ants were moving in there, and had no way to get out.